vanban.org

Bản án 192/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 20/09/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị DTY

Về quan hệ hôn nhân: Chị DTY ly hôn anh NTH. Về con chung: Giao con chung là K, sinh ngày 08/3/2014 và L, sinh ngày 29/3/2016 cho anh NTH tiếp tục nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "DTY - NTH"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị DTY
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 192/2022/HNGĐ-ST
Ngày 20-9-2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vũ Thị Minh Nguyệt

Ông Đặng Huy Du.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mai Phương - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đồng Thị Phương Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 154/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị DTY, sinh năm 1996. ĐKHKTT: Tổ A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng; hiện ở: D, Hàn Quốc; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt

- Bị đơn: Anh NTH, sinh năm 1982. ĐKHKTT: Số E, phường F, quận G, thành phố; hiện ở: Thôn H, xã I, huyện J, thành phố Hải Phòng; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn chị DTY trình bày:

Chị và anh NTH kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 23 tháng 3 năm 2016 tại Ủy ban nhân dân phường F, quận G, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng nhau được một thời gian sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau trong cuộc sống. Đến cuối năm 2018, chị DTY sang Hàn Quốc lao động và ở lại Hàn Quốc sinh sống từ đó đến nay. Do khoảng cách địa lý xa xôi, vợ chồng không ở gần nhau, cũng không quan tâm, chia sẻ với nhau nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Từ thời gian chị DTY sang Hàn Quốc, anh chị đã sống ly thân, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Nay, chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn giữa chị và anh NTH đã trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh NTH.

Về con chung: Chị và anh NTH có 02 con chung là K, sinh ngày 08/3/2014 và L, sinh ngày 29/3/2016. Hiện hai cháu đang sống cùng anh NTH nên chị đề nghị anh NTH tiếp tục nuôi dưỡng hai cháu. Về cấp dưỡng nuôi con chị và anh NTH tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị và anh NTH tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong văn bản trình bày ý kiến của bị đơn gửi cho Tòa án, anh NTH trình bày:

Anh thống nhất về quá trình kết hôn cũng như mâu thuẫn vợ chồng giữa anh và chị DTY. Anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn do vợ chồng xa nhau, không quan tâm đến cuộc sống của nhau dẫn đến xảy ra mâu thuẫn không thể giải quyết nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị DTY. Về con chung: Anh và chị DTY có 02 con chung là K, sinh ngày 08/3/2014 và L, sinh ngày 29/3/2016, anh đồng ý nuôi dưỡng hai cháu do điều kiện chị DTY đang ở nước ngoài, về cấp dưỡng nuôi con thì anh và chị DTY tự thỏa thuân, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Anh và chị DTY tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị DTY và bị đơn anh NTH vắng mặt nhưng đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ. Nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Chị DTY và anh NTH kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường F, quận G, thành phố Hải Phòng vào ngày 23/3/2016 là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị DTY. Về con chung: Anh chị có 02 con chung K, sinh ngày 08/3/2014 và L, sinh ngày 29/3/201601, anh chị thống nhất để anh NTH nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuân, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, xét thấy:

- Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Chị DTY có đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh NTH. Bị đơn anh NTH hiện đang sinh sống tại Hải Phòng, Việt Nam, nguyên đơn chị DTY hiện đang sinh sống tại Hàn Quốc, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị DTY và bị đơn anh NTH đều vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị DTY và anh NTH kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 23 tháng 3 năm 2016 tại Ủy ban nhân dân phường F, quận G, thành phố Hải Phòng. Anh chị chung sống cùng nhau tại Việt Nam được một thời gian thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn về kinh tế. Đến cuối năm 2018, anh DTY ra nước ngoài sinh sống và làm việc Hàn Quốc. Tuy nhiên, vợ chồng xa cách dẫn đến xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chị bất đồng quan điểm sống, không thể cảm thông và chia sẻ với nhau nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Đến thời gian gần đây, anh chị đã sống ly thân, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị DTY và anh NTH đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ, cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị DTY.

Về con chung: Chị DTY và anh NTH có 02 con chung là K, sinh ngày 08/3/2014 và L, sinh ngày 29/3/2016. Hiện hai cháu đang sống cùng anh NTH được anh NTH chăm sóc đầy đủ; chị DTY và anh NTH đều thống nhất để anh NTH được tiếp tục nuôi dưỡng cháu; về cấp dưỡng nuôi con thì chị DTY và anh NTH thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thấy, chị DTY hiện đang ở nước ngoài, các cháu hiện nay được bố chăm sóc phát triển bình thường về tinh thần và thể chất, riêng cháu K (đã trên 7 tuổi) có đơn đề nghị được ở với bố đẻ. Vì vậy, cần tiếp tục giao các cháu K và L cho anh NTH nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Chị DTY và anh NTH tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị DTY là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Chị DTY và anh NTH được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị DTY

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị DTY ly hôn anh NTH.

2. Về con chung: Giao con chung là K, sinh ngày 08/3/2014 và L, sinh ngày 29/3/2016 cho anh NTH tiếp tục nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị DTY và anh NTH tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về tài sản chung: Chị DTY và anh NTH tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị DTY phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai số 0000533 ngày 21 tháng 6 năm 2022 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị DTY đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Anh NTH được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Chị DTY được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./

Cỡ chữ