- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 192/2022/HNGĐ-ST Ngày: 28 - 7 - 2022 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Sang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tô Ngọc Liêm
2. Ông Tôn Phước Thuận
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Bá Thi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Chợ Mới, tỉnh An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa:
Ông Lê Hoàng Vỉnh - Kiểm sát viên
Trong ngày 28 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ
Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 384/2022/TLST-
HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly
hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 319/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày
21 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 312/2022/QĐST-HNGĐ
ngày 11 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hồng Đ, sinh năm 1985
Địa chỉ: Số nhà 1898/50, T36, K4, P11, thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp
(có mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1990
Địa chỉ: Ấp TL, xã TM, huyện CM, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn chị Lê Thị Hồng Đ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đ và anh Nguyễn Thanh T tự tìm hiểu và tiến
đến hôn nhân vào năm 2019, có đăng ký ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống tại số 1898/50, t36, K4, P11, thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp. Đầu năm 2021 thì vợ chồng bắt đầu cự cãi, sống đến cuối năm 2021, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Mâu thuẫn cụ thể là do anh T ghen tuông, vợ chồng bất đồng quan điểm nên thường xuyên cãi nhau. Đến đầu năm 2022, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay, từ khi ly thân đến nay, hai bên gia đình không hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị Đ và anh T, chị Đ có cho cơ hội để anh T quay về chung sống nhưng không thành. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên chị Đ yêu cầu ly hôn với anh T.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Lê Khôi V, sinh
ngày 27/8/2019. Hiện nay, con chung đang sống với anh T và phát triển bình thường. Trong đơn khởi kiện, chị Đ yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi ly hôn, tuy nhiên, nay chị Đ đồng ý để anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn Thanh T vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa,
Chị Lê Thị Hồng Đ trình bày: Chị Đ và anh T chung sống đến đầu năm
2021 thì phát sinh mâu thuẫn do anh T ghen tuông vô cớ, bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cãi, mâu thuẫn giữa vợ chồng trở nên gay gắt từ cuối năm 2021 nên vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, gia đình 02 bên không có động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị Đ và anh T; bản thân anh T cũng không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, chị Đ yêu cầu được ly hôn với anh T; về con chung, chị Đ đồng ý để anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Lê Khôi V, sinh ngày 27/8/2019, chị Đ không cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn Thanh T vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai
đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã làm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị
Hồng Đ. Về quan hệ hôn nhân, chị Lê Thị Hồng Đ được ly hôn anh Nguyễn Thanh T. Về con chung, anh Nguyễn Thanh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Lê Khôi V, sinh ngày 27/8/2019; chị Lê Thị Hồng Đ không phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Chị Lê Thị Hồng Đ khởi kiện yêu cầu được ly hôn đối với anh
Nguyễn Thanh T và trực tiếp nuôi con chung khi ly hôn là tranh chấp về hôn
nhân và gia đình. Đồng thời, anh Nguyễn Thanh T có nơi cư trú tại ấp TL, xã
TM, huyện CM, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải
quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm
a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Theo Đơn khởi kiện, chị Lê Thị Hồng Đ yêu cầu được trực tiếp
chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Lê Khôi V, sinh ngày 27/8/2019.
Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ, chị Đ thay đổi yêu cầu khởi kiện, đồng ý để
anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, việc thay đổi
yêu cầu khởi kiện của chị Đ không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu. Căn cứ
Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi yêu
cầu khởi kiện của chị Đ để xem xét, giải quyết trong vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng
cho anh Nguyễn Thanh T theo quy định của pháp luật nhưng anh Nguyễn Thanh
T vắng mặt không có lý do chính đáng và không có ý kiến phản đối đối với yêu
cầu khởi kiện của chị Lê Thị Hồng Đ nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem
xét. Tại phiên tòa, anh Nguyễn Thanh T đã được triệu tập hợp lệ 02 lần để tham
gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ Điều 227,
Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt
anh Nguyễn Thanh T.
Về nội dung vụ án:
Đối với quan hệ hôn nhân:
Chị Lê Thị Hồng Đ cho rằng, chị Đ và anh T do tự tìm hiểu nên tiến đến
hôn nhân vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tấn Mỹ,
huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang ngày 17/7/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng
chung sống đến đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do anh T ghen tuông vô
cớ, vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên thường xuyên xảy ra cự
cãi; mâu thuẫn vợ chồng trở nên gay gắt từ cuối năm 2021 và vợ chồng không
còn tiếng nói chung nên sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng
sống ly thân, anh T không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng; gia đình 02
bên cũng không có động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị Đ và anh T.
Chị Đ có cho cơ hội để vợ chồng hàn gắn tình cảm nhưng không thành.
Xét thấy, chị Lê Thị Hồng Đ và anh Nguyễn Thanh T kết hôn trên cơ sở
tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia
đình, là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Anh Nguyễn Thanh T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án và không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị Đ, thể hiện anh Nguyễn Thanh T không còn thiện chí níu kéo quan hệ hôn nhân giữa chị Đ và anh T. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị Đ và anh T theo quy định của pháp luật nhưng không hòa giải được nên lời trình bày của chị Đ về tình trạng hôn nhân giữa chị Đ và anh T là có cơ sở chấp nhận. Nói cách khác, đã có đủ căn cứ để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Đ và anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, việc chị Đ yêu cầu ly hôn anh T phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên có cơ sở chấp nhận.
Đối với con chung: Chị Lê Thị Hồng Đ xác định vợ chồng có 01 con
chung tên Nguyễn Lê Khôi V, sinh ngày 27/8/2019, hiện nay đang sống với anh T từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Khi ly hôn, chị Đ đồng ý để anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, việc giao con chung là người chưa thành niên cho người chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi ly hôn phải đảm bảo điều kiện phát triển tốt nhất cho con cả về vật chất lẫn tinh thần. Khi vợ chồng sống ly thân, cháu Việt sinh sống với anh T cho đến nay nên tình cảm của cháu đã gắn liền với người nuôi dưỡng; quá trình chung sống với anh T, cháu Việt vẫn sinh sống, phát triển bình thường. Để ổn định cuộc sống cho cháu Việt, giúp cháu Việt phát triển tốt nhất về thể chất và tinh thần, Hội đồng xét xử xét thấy việc chị Đ đồng ý để anh T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi ly hôn phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Thanh T là người trực
tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi ly hôn nên chị Lê Thị Hồng Đ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình nhưng anh Nguyễn Thanh T vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án và không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu của chị Đ nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
Đối với tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án
giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
Về án phí và quyền kháng cáo:
Chị Lê Thị Hồng Đ phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình
sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271
và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị
Hồng Đẹp.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Hồng Đ được ly hôn anh Nguyễn
Thanh T.
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 109/2019 do Ủy ban nhân dân xã
Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 17/7/2019 cho chị Lê Thị
Hồng Đ và anh Nguyễn Thanh T không còn giá trị pháp lý.
[2] Về con chung:
Anh Nguyễn Thanh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên
Nguyễn Lê Khôi V, sinh ngày 27/8/2019. Hiện nay đang sống với anh Nguyễn
Thanh T.
Chị Lê Thị Hồng Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Nguyễn Thanh T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được
cản trở chị Lê Thị Hồng Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục con chung.
Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ
quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con,
buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị Hồng Đ phải chịu 300.000 (ba
trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào
số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai số
0010493 ngày 13/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.
[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền
kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự
vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười
lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy
định của pháp luật.
[7] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Chợ Mới; - Chi cục THADS huyện Chợ Mới; - Ủy ban nhân dân xã Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; - Đương sự; - Văn phòng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Phước Sang |