- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Thị Bé T + ĐB - Tàng trữ trái phép MT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? 1/ Về trách nhiệm hình s : Tuyên bố các bị cáo Ngô Thị Bé T và Trần Nhật Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình s; Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình s
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 192/2019/HS-ST Ngày: 16-10-2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Châu Giang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đỗ Xuân Hưng;
2. Bà Lê Thị Ngọc Sương;
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Điền – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 10 năm 2019, tại tr s Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, t nh Bình Dương m phiên tòa xét x công khai v án hình s sơ th m th lý số 160/2019/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2019 theo quyết định đưa v án ra xét x số 185/2019/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2019 đối v i các bị cáo:
1. Ngô Thị Bé T, sinh năm 1995 tại t nh Sóc Trăng. Nơi ĐKHKTT: Ấp A, xã AX, huyện C, t nh Sóc Trăng. Tạm trú: Khu phố X, phường P, thành phố T, t nh Bình Dương. Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Hiền S và bà Kim D; có chồng (không đăng ký kết hôn) Trần Nhật Q và 02 người con, l n nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền s : Không. Bị cáo bị bắt tạm giam trong v án khác; có mặt.
2. Trần Nhật Q, sinh năm 1998 tại t nh Đồng Tháp. Nơi ĐKHKTT: Ấp X, xã Đ, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh. Tạm trú: Khu phố X, phường P, thành phố T, t nh Bình Dương. Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H và bà Trần Thị N; có vợ (không đăng ký kết hôn) Ngô Thị Bé T và 01 người con sinh năm 2018; tiền án, tiền s : Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/3/2019 và tạm giam cho đến nay; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1970; địa ch : Khu phố T, phường A, thị xã T, t nh Bình Dương; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Ngô Thị Bé T và Trần Nhật Q sống chung như vợ chồng và có một con chung sinh năm 2018. Ngô Thị Bé T và Trần Nhật Q cùng nghiện ma túy từ đầu năm 2018, loại ma túy T và Q s d ng là ma túy đá.
Khoảng 13 giờ ngày 08/3/2019, Ngô Thị Bé T và Trần Nhật Q đang nhà trọ thuộc khu X, phường P, thành phố T, t nh Bình Dương thì T nảy sinh ý định đi mua ma túy đá về s d ng. Do không có xe mô tô để đi mua ma túy nên T đến nhà của ông Nguyễn Văn D là người quen của T để hỏi mượn xe mô tô biển số 61E1 – 647.XY, nhãn hiệu Honda – Airblade, màu Trắng - đen - bạc của ông D nói là đi công việc thì ông Dg đồng ý. Sau khi mượn được xe mô tô, T về nhà trọ rủ Q đi đến huyện C, thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy đá về s d ng, cùng lúc Q đồng ý và điều khiển xe mô tô ch T đi đến huyện C, thành phố Hồ Chí Minh để mua ma túy đá. Khi đến khu v c chợ S thuộc xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh, T s d ng điện thoại có số thuê bao 0355.352.XYZ gọi vào số thuê bao 0922.200.XYZ của một người nam tên S (Không rõ nhân thân lai lịch c thể) hỏi mua ma túy đá. Người nam này đồng ý bán ma túy cho T rồi hư ng dẫn T và Q chạy vào một con hẻm gần đó, tại đây T hỏi mua ma túy v i số tiền 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm ngàn đồng), S lấy 01 (Một) gói nylon hàn kín bên trong có chất tinh thể màu trắng đưa cho T. T đưa tiền cho người nam rồi cầm 01 (Một) gói nylon hàn kín bên trong có chất tinh thể màu trắng trên tay phải. Sau đó, Q điều khiển xe mô tô ch T đi về. Đến khoảng 14 giờ 45 cùng ngày 08/3/2019, khi Q điều khiển xe mô tô biển số 61E1 – 647.XY ch T đi đến đoạn đường H thuộc khu phố CX, phường C, thành phố T, t nh Bình Dương thì bị l c lượng Công an phường C kết hợp cùng Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an t nh Bình Dương kiểm tra bắt quả tang, thu giữ:
+ 01 (một) gói nylon miệng kéo dính, bên trong có chứa ma túy;
+ 01 (một) xe mô tô biển số 61E1 – 647.XY, nhãn hiệu Honda – Airblade, màu Trắng - đen - bạc. (Bút l c 01, 02)
Ngày 08/3/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một, t nh Bình Dương ra Quyết định trưng cầu giám định số: 227/QĐ-CQ.CSĐT g i đến Phòng kỹ thuật hình s - Công an t nh Bình Dương để giám định số ma túy thu giữ nêu trên của Ngô Thị Bé T và Trần Nhật Q. Ngày 12/3/2019, Phòng kỹ thuật hình s - Công an t nh Bình Dương có bản kết luận giám định số: 220/MT-PC09 kết luận:
- Mẫu tinh thể g i giám định là ma túy, có khối lượng/trọng lượng: 2,4829 gam, loại Methamphetamine (Bút l c 34).
Đối v i người nam tên S (Không rõ nhân thân lai lịch) đã có hành vi bán ma túy cho Ngô Thị Bé T và Trần Nhật Q. Do không xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Dầu Một, t nh Bình Dương tiếp t c xác minh điều tra x lý sau.
Đối v i 01 (một) xe mô tô biển số 61E1 – 647.XY, nhãn hiệu Honda – Airblade, màu Trắng - đen - bạc. Quá trình điều tra xác định đây là xe mô tô do ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1970, ng tại khu phố T, phường A, thị xã T, t nh Bình Dương đứng tên trên Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô. Ngày 08/3/2019, ông D cho Ngô Thị Bé T mượn xe để đi công việc, ông D không biết việc T s d ng xe mô tô trên để th c hiện hành vi phạm tội. Ngày 03/4/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Dầu Một, t nh Bình Dương đã giao trả xe mô tô trên cho ông D theo Quyết định x lý vật chứng số 72 ngày 03/4/2019 (Bút l c 93, 94).
Đối v i 01 (một) gói nylon miệng kéo dính, bên trong có chứa Methamphetamine sau giám định, được niêm phong, trọng lượng sau giám định: 2,3291 gam (Hai ph y ba hai chín một ). Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một, t nh Bình Dương đã chuyển Chi c c Thi hành án dân s thành phố Thủ Dầu Một, t nh Bình Dương.
Đối v i 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng đồng cùng sim số 0355352XYZ. Quá trình điều tra xác định đây là điện thoại Ngô Thị Bé T s d ng để gọi cho người nam tên S hỏi mua ma túy nên cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một, t nh Bình Dương đã chuyển Chi c c Thi hành án dân s thành phố Thủ Dầu Một, t nh Bình Dương.
Cáo trạng số 174/CT-VKS-HS ngày 19/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Bé T và Trần Nhật Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình s .
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một trong phần luận tội giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Bé T và Trần Nhật Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình s , đồng thời đề nghị Hội đồng xét x áp d ng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình s , x phạt:
- Bị cáo Ngô Thị Bé T mức hình phạt từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù.
- Bị cáo Trần Nhật Q mức hình phạt từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù.
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét x tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư niêm phong có chữ ký người bị bắt Ngô Thị Bé T và Trần Nhật Q, cán bộ niêm phong Nguyễn Thanh U và hình dấu đỏ Công An phường C, thành phố Thủ Dầu Một. Bên trong có 01 gói nylon chứa ma túy loại Methamphetamine trọng lượng sau giám định 2,3291 gam theo kết luận giám định số 220/MT-PC09 ngày 12/3/2019 là tang vật của v án.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nư c 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng đồng, số thuê bao: 0355.352.XYZ (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động) là phương tiện th c hiện hành vi phạm tội.
Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đều xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án và đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét x nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình kh i tố, điều tra, truy tố đã th c hiện đúng về th m quyền, trình t , thủ t c quy định của Bộ luật Tố t ng hình s . Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, quyết định, hành vi tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã th c hiện là phù hợp v i quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp v i lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản niêm phong, kết luận giám định cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án, đủ cơ s kết luận: Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 08/3/2019, Ngô Thị Bé T và Trần Nhật Q, đã có hành vi cất giấu trong người 2,4829 gam chất ma túy, loại Methamphetamine tại khu v c đường H thuộc phường C, thành phố Thủ Dầu Một, t nh Bình Dương để s d ng. Như vậy, hành vi mà các bị cáo th c hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình s . Các bị cáo có đủ năng l c chịu trách nhiệm hình s . Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi mà các bị cáo th c hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nư c đối v i chất ma túy. Hiện nay, tình hình nghiện hút chất ma túy đang diễn ra phức tạp trong mọi tầng l p. Tệ nạn này là mối quan tâm của toàn xã hội, một trong những nguyên nhân dẫn đến tệ nạn này chưa được đ y lùi chính là có s tiếp tay của các bị cáo. Do đó, để có tác d ng giáo d c các bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng v i tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà mỗi bị cáo đã th c hiện, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác d ng giáo d c các bị cáo tr thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. V án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng nhau th c hiện hành vi phạm tội, tuy nhiên do bị cáo T là người nảy sinh ý định đi mua ma túy đá về s d ng và mượn xe mô tô biển số 61E1 – 647.XY sau đó rủ bị cáo Q cùng đi nên mức hình phạt phải cao hơn bị cáo Q.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình s : Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s : Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành kh n khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình s . Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ phạm tội cũng như tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối v i các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét x chấp nhận.
Về biện pháp tư pháp:
Đối v i 01 (một) bì thư niêm phong có chữ ký người bị bắt Ngô Thị Bé T và Trần Nhật Q, cán bộ niêm phong Nguyễn Thanh U và hình dấu đỏ Công An phường C, thành phố Thủ Dầu Một. Bên trong có 01 gói nylon chứa ma túy loại Methamphetamine trọng lượng sau giám định 2,3291 gam theo kết luận giám định số 220/MT-PC09 ngày 12/3/2019 là tang vật của v án nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối v i 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng đồng, số thuê bao: 0355.352.XYZ (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động) là phương tiện th c hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nư c.
Án phí sơ th m: Các bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 106, 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố t ng hình s ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và s d ng án phí, lệ phí Tòa án.
1/ Về trách nhiệm hình s : Tuyên bố các bị cáo Ngô Thị Bé T và Trần Nhật Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2/ Về hình phạt:
Áp d ng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình s . X phạt bị cáo Ngô Thị Bé T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo T hành án.
Áp d ng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình s . X phạt bị cáo Trần Nhật Q 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/3/2019.
3/ Về biện pháp tư pháp: Áp d ng Điều 47 Bộ luật Hình s .
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư niêm phong có chữ ký người bị bắt Ngô Thị Bé T và Trần Nhật Q, cán bộ niêm phong Nguyễn Thanh U và hình dấu đỏ Công An phường C, thành phố Thủ Dầu Một. Bên trong có 01 gói nylon chứa ma túy loại Methamphetamine trọng lượng sau giám định 2,3291 gam theo kết luận giám định số 220/MT-PC09 ngày 12/3/2019.
Tịch thu sung quỹ nhà nư c 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng đồng, số thuê bao: 0355.352.XYZ (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động).
(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 164.19 ngày 19/8/2019 giữa Chi cục Thi hành án dân sự và Công an thành phố Thủ Dầu Một).
4/ Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình s sơ th m.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND t nh Bình Dương; - VKSND t nh Bình Dương; - Công an t nh Bình Dương (PV06); - S Tư pháp t nh Bình Dương; - VKSND thành phố Thủ Dầu Một; - Công an thành phố Thủ Dầu Một; - Chi c c THA thành phố Thủ Dầu Một; - Người tham gia tố t ng; - Lưu: HS, Tòa. | TM. HỘI Đ NG X T X SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Châu Giang |