vanban.org

Bản án 192/2019/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 17/04/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/04/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn H; giữ nguyên bản án

sơ thẩm số 05/2019/HS-ST ngày 22/01/2018 của Tòa án nhân dân Quận 5 Thành phố Hồ Chí Minh.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn H; giữ nguyên bản án
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 192/2019/HS-PT
Ngày: 17/4/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với!thành!phần!Hội!đồng!xét!xử!phúc!thẩm!gồm!có:!

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Trương Công Huấn.

Các"Thẩm"phán:""

1.Bà Phạm Uyên Thy

2.Ông Phan Nguyên Nguyên

Thư"ký"phiên"tòa:"Ông Lưu Quốc Khánh, thư ký Tòa án nhân dân Thành

phố Hồ Chí Minh.

Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"Thành"phố"Hồ"Chí"Minh"tham"gia"phiên"

tòa: Ông Nguyễn Thanh Thuận - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17/4/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số

125/2019/HSPT ngày 04/3/2019 đối với bị cáo Trần Văn H, theo Quyết định

đưa vụ án ra xét xử số 1561/2019/QĐXXPT-HS ngày 03/4/2019, do có kháng

cáo của bị cáo đối với bản án sơ thẩm số 05/2019/HS-ST ngày 22/01/2019 của

Tòa án nhân dân Quận 5 Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị!cáo!kháng!cáo:

Họ và tên: Trần Văn H, sinh năm 1973 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới

tính: nam; nơi đăng ký thường trú: 67/1/5 đường AB, Phường 6, Quận 5, Thành

phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: chạy xe ôm; trình độ văn hóa: 2/12; dân tộc:

Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L (chết) và bà Phạm Thị T; hoàn

cảnh gia đình: chưa có vợ con;

Tiền án: (không);

Tiền sự: Ngày 26/6/2017, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 6, Quận 5

xử lý hành chính bằng biện pháp giáo dục tại phường với thời gian 3 tháng tính

từ ngày 26/6/2017 đến ngày 26/9/2017 vì sử dụng ma túy trái phép.

Nhân thân:

Ngày 23/02/2001, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

xử lý hành chính đưa vào Trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục 24 tháng vì hành vi sử dụng trái phép chất ma túy;

Ngày 08/3/2012, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận 8 xử lý hành chính

đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc 2 năm từ ngày 28/02/2012 vì nghiện ma túy;

Bị bắt, tạm giam: 02/9/2018.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 01/9/2018, bị cáo Trần Văn H (H) điều khiển

xe mô tô hiệu Suzuki mang biển số 66L8-3181 đến khu vực đầu hẻm số 67 đường An Bình, Phường 6, Quận 5. Tại đây, H gặp một người không rõ lai lịch có tên gọi là “Bánh Xèo” và hỏi mua 200.000đ ma túy, với mục đích để sử dụng cho bản thân. “Bánh Xèo” đưa cho H 1 gói nylon bên trong chứa ma túy đá, H đưa tiền cho “Bánh Xèo”. Sau đó, H bỏ gói ma túy vào trong chiếc bóp của mình, rồi cất chiếc bóp vào túi quần trước bên pH. Đến khoảng 22 giờ 45 phút cùng ngày, H điều khiển chiếc xe đã nêu đi đến trước nhà số 146 đường An Bình, Phường 7, Quận 5 thì bị Tổ trinh sát thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 5 phát hiện bắt giữ. Lực lượng công an đã thu giữ của H:

-01 gói ma túy (như đã đề cập);

-01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (H để trong cốp xe);

-01 xe mô tô mang biển số 66L8-3181, số máy có ký hiệu là F4A5-

119157, số khung có ký hiệu là 080119157;

-01 điện thoại hiệu Nokia, số Imei là 353209/03/042120/0.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 5, Trần Văn H khai nhận

hành vi vi phạm như đã nêu.

Theo Kết luận giám định số 1493/KLGĐ-H ngày 10/9/2018 của Phòng kỹ

thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định được như sau: Tinh thể không màu chứa trong gói nylon thu giữ được của H như đã nêu ở phần trên là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1815g, loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 02/CTr-VKS ngày 13/12/2018 của Viện kiểm sát

nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Văn H về tội

“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự

năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 05/2019/HS-ST ngày 22/01/2019, Tòa án

nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;

Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017),

Xử phạt bị cáo Trần Văn H 2 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày

02/9/2018.

Ngoài ra, bản án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo của

bị cáo và đương sự.

Ngày 24/01/2019, bị cáo có đơn kháng cáo với nội dung: Mức án mà Tòa

án nhân dân Quận 5 xử phạt đối với bị cáo là quá nặng so với hành vi phạm tội

của bị cáo. Bị cáo đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giảm nhẹ

trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại!phiên!tòa!phúc!thẩm,!

Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Bị cáo là người nghiện

ma túy, có nhân thân không tốt. Mức án mà Tòa án nhân dân Quận 5, Thành

phố Hồ Chí Minh xử phạt đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ vi

phạm và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng Tại

phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không nêu được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do

vậy, đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không chấp nhận kháng

cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của kiểm sát

viên và bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực

hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình

sự. Quá trình điều tra, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc

khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành

tố tụng. Các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành

tố tụng là hợp pháp.

[2].Căn cứ lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, có

căn cứ để xác định: Bị cáo Trần Văn H là người nghiện ma túy. Vào ngày 01/9/2018, H đã mua 0,1815g ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine của một người thanh niên không rõ lai lịch, với mục đích để sử dụng cho bản thân. Vào khoảng 22 giờ 45 phút cùng ngày, khi H điều khiển xe mô tô Suzuki mang biển số 66L8-3181 đi đến trước nhà số 146 đường An Bình, Phường 7, Quận 5 thì bị lực lượng công an bắt giữ và thu giữ khối lượng ma túy đã đề cập.

[3].Ma túy là chất gây nghiện độc hại. Việc sử dụng ma túy không chỉ

gây thiệt hại đến tài sản của gia đình và xã hội mà còn gây tổn hại đến sức khỏe, tính mạng của chính người sử dụng. Người thường xuyên sử dụng ma túy sẽ bị thoái hóa nhân cách, không làm chủ được hành vi, dễ dẫn đến việc phạm tội, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác. Chính vì vậy, Nhà nước ta đã nghiêm cấm việc tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy. Những người có hành vi vi phạm đều sẽ bị nghiêm trị. Bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai trái, bị luật pháp nghiêm cấm nhưng do lối sống đua đòi, buông thả, bị cáo đã sa vào con đường nghiện ma túy, để rồi dấn thân vào việc phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia;"xâm phạm đến hoạt động của Nhà nước trong hoạt động quản lý và kiểm soát các chất ma túy.

[4].Đối chiếu với quy định của pháp luật, có đủ căn cứ để kết luận bị cáo

đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án bị cáo theo tội danh và điều luật như đã vừa nêu là có căn cứ, đúng pháp luật.

[5].Về việc bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt:

Bị cáo phạm tội lần đầu; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo

thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 để giảm nhẹ trách nhiệm cho bị cáo là có căn cứ.

Tuy nhiên, mức án 2 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với

bị cáo là tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng. Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

[6].Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án

phí hình sự phúc thẩm theo quy định của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội.

[7].Bị cáo là người có 1 tiền sự: Ngày 26/6/2017, bị Chủ tịch Ủy ban

nhân dân Phường 6, Quận 5 xử lý hành chính bằng biện pháp giáo dục tại phường 3 tháng, tính từ ngày 26/6/2017 đến 26/9/2017. Theo quy định tại Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính thì chưa hết thời hạn để bị cáo được coi là

người chưa bị xử lý hành chính. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo

chưa có tiền sự là không chính xác, cần rút kinh nghiệm.

Vì"các"lẽ"trên,"

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự

năm 2015,

1.Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn H; giữ nguyên bản án

sơ thẩm số 05/2019/HS-ST ngày 22/01/2018 của Tòa án nhân dân Quận 5 Thành

phố Hồ Chí Minh.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;

Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017),

Xử phạt bị cáo Trần Văn H 2 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày

02/9/2018.

2.Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng

nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3.Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

4.Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

!

!!Nơi!nhận:

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

- TAND TC;

(1)

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- TAND cấp cao tại TP.HCM

(1)

- VKSND TP.HCM;

(3)

- VKSND Quận 5;

(1)

- PC53 - CATP;

(1)

- Bị cáo;

(1)

- Đương sự:

(1)

- Chi Cục THADS Quận 5;

(1)

- TAND Quận 5;

(2)

- Công an Quận 5;

(1)

- Sở Tư pháp TP.HCM;

(1)

- UBND xã, phường nơi bị cáo cư trú;

(1)

Trương Công Huấn

- Lưu: THS, hồ sơ, VT (19).

(4)

Cỡ chữ