vanban.org

Bản án 191/2024/HSST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 19/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Nguyễn Thanh T 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 12/8/2024).

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VĨNH YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 191/2024/HS-ST
Ngày 19- 12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đường

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai

Bà Vũ Thị Kim Dung

Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên tòa: Bà Lê Bảo Ngọc – Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 12 năm 2024, tại Nhà văn hóa tổ dân phố Bảo Sơn, phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên, Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 187/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh T, sinh năm 1973, tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố An Lập, phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh Uyên và bà Lê Thị Hiếu; vợ: Nguyễn Thị Kim Liên; con: 01 con; tiền án: 03:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 110/2001/HSST ngày 19/12/2001 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xử phạt Nguyễn Thanh T 15 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 3 Điều 194 BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, phạt sung quỹ Nhà nước số tiền 5.000.000đ, nộp án phí hình sự sơ thẩm 50.000đ. Quá trình thi hành án T đã nộp án phí hình sự sơ thẩm và tiền phạt, số tiền 112.000đ; T còn phải thi hành tiếp số tiền 4.938.000đ. Ngày 22/02/2002, Phòng thi hành án tỉnh Lào Cai đã ủy thác cho Đội thi hành án thị xã Vĩnh Yên tiếp tục thi hành án đối với Nguyễn Thanh T theo Quyết định ủy thác số 03/UTTHA. T đã nộp tiếp được số tiền phạt là 138.000đ, còn lại là 4.800.000đ. Đến ngày 10/11/2008, Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã ra Quyết định miễn nghĩa vụ thi hành án số 03 đối với số tiền trên. Ngày 04/6/2011, T chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương;

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2013/HSST ngày 30/9/2013, Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Thanh T 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Bản án xác định Nguyễn Thanh T tái phạm theo Bản án số 110/2001 ngày 19/12/2001 của TAND tỉnh Lào Cai), T phải nộp án phí hình sự 200.000đ, tịch thu số tiền 90.000đ do T thu lời từ việc bán ma túy mà để có để sung công quỹ. T chấp hành khoản án phí hình sự sơ thẩm và khoản tiền tịch thu sung quỹ vào ngày 05/12/2013. Ngày 29/02/2016, T chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương;

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2017/HSST ngày 14/9/2017, Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Thanh T 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 194 BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, án phí hình sự 200.000đ, phạt sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000đ. T chấp hành khoản án phí vào ngày 03/11/2017, chấp hành khoản tịch thu sung công quỹ Nhà nước vào ngày 25/12/2017. Ngày 28/4/2024, T chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương; Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1951;

Địa chỉ: Tổ dân phố Láp, phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt);

Người chứng kiến: Anh Quản Long V, sinh năm 2002; địa chỉ; Tổ dân phố Láp, phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00 ngày 11/8/2024, Phòng Cảnh sát cơ động Công an tỉnh Vĩnh Phúc phối hợp với Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh làm nhiệm vụ tuần tra bảo đảm an ninh trật tự tại Ngã tư dốc Láp thuộc phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên phát hiện Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1973, hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố An Lập, phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện tại lòng bàn tay trái của T có 01 gói giấy nhỏ màu trắng bên trong có chứa chất cục bột màu trắng (T khai nhận là ma túy Heroine T mua về để sử dụng). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản niêm phong 01 gói giấy nhỏ màu trắng bên trong có chứa chất cục bột màu trắng vừa thu được của T vào phong bì thư theo đúng quy định của pháp luật, ký hiệu A1 và đưa T cùng tang vật về trụ sở Công an phường Liên Bảo để làm việc.

Cùng ngày 11/8/2024, Cơ quan điều tra Công an thành phố Vĩnh Yên đã ra Quyết định số 2104 trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định đối với mẫu ký hiệu A1 thu giữ của T.

Tại kết luận giám định số 2357/KL-KTHS ngày 15/8/2024, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:“Chất cục, bột màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1431g (không phảy một bốn ba một gam, không kể bao bì) loại Heroine…

Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: A1 = 0,1037 gam mẫu và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ VỤ 2184/2024”;

Về nguồn gốc 01 gói ma túy Heroine thu giữ của Nguyễn Thanh T, quá trình điều tra T khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 11/8/2024, khi T đang ở khu vực gần nhà tại Tổ dân phố An Lập, phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên thì nảy sinh ý định sử dụng ma tuý Heroine cho nhu cầu nghiện của bản thân, nên T điều khiển xe mô tô BKS: 88S8-0633 đến khu vực chợ Vĩnh Yên thuộc phường Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên để tìm mua ma tuý. Khi đi đến khu vực gần cổng chính chợ Vĩnh Yên, T gặp một người phụ nữ khoảng hơn 40 tuổi, đeo khẩu trang đứng ở trên vỉa hè nên T đến gần và hỏi mua của người này 01 gói ma tuý Heroine với giá 200.000đ. Sau khi mua được ma tuý, T cầm ở trong lòng bàn tay trái rồi đi tìm nơi vắng người để sử dụng, khi bị cáo đi đến khu vực Dốc Láp, phường Liên Bảo thì bị Cơ quan Công an kiểm tra hành chính, phát hiện và thu giữ tang vật gồm 01 gói giấy nhỏ màu trắng bên trong có chứa chất cục bột màu trắng được niêm phong vào một phong bì thư theo quy định pháp luật

Tại Cáo trạng số 198/CT- VKSNDVY ngày 14/112024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố Nguyễn Thanh T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại Cơ quan điều tra và phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 05 năm 09 tháng đến 06 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 12/8/2024), không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017); khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: A1 = 0,1037 gam ma túy Heroine và toàn bộ bao gói được niêm phong MẪU TRẢ VỤ 2184/2024.

Bị cáo Nguyễn Thanh T không bào chữa và tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thanh T tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, mục đích, động cơ phạm tội, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu, chứng cứ được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Hồi 20 giờ, ngày 11/8/2024, tại khu vực Dốc Láp, thuộc phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên, Nguyễn Thanh T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, mục đích sử dụng cho nhu cầu của bản thân thì bị Tổ công tác Công an tỉnh Vĩnh Phúc kiểm tra hành chính, phát hiện, thu giữ tại lòng bàn tay trái của T 01 gói giấy nhỏ, bên trong có 0,1431 gam chất bột màu trắng, qua giám định xác định là ma tuý, loại Heroine.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Thanh T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Nội dung điều luật quy định:

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

o) Tái phạm nguy hiểm”

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe của con người, làm tác hại cho chính bản thân bị cáo và gia đình cũng như cho cộng đồng nói chung. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo T phạm tội theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có mức cao nhất của khung hình phạt tù đến 10 năm nên theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm rất nghiêm trọng.

Bị cáo T là người có nhân thân xấu, năm 2001 T bị Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử 15 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 110/2001 ngày 19/12/2001. Năm 2013 T bị Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xử phạt 36 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” theo Bản án số 54/2013 ngày 30/8/2013. Năm 2017 T bị Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo bị áp dụng tình tiết định khung là “Tái phạm nguy hiểm” theo Bản án số 46/2017 ngày 14/9/2017. Bị cáo chưa được xoá án tích lại phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này bị cáo bị áp dụng tình tiết định khung là “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Căn cứ hành vi phạm tội của bị cáo cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

Đối với người có liên quan trong vụ án: Đối với người bán ma tuý cho T, quá trình điều tra T khai nhận được một số đối tượng nghiện giới thiệu tại khu vực gần cổng chính chợ Vĩnh Yên có người bán ma tuý. Ngày 11/8/2024 T đến tìm và mua ma túy của một người phụ nữ không biết tên tuổi, địa chỉ, người này khoảng hơn 40 tuổi, cao khoảng 1,68m. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Công an phường Ngô Quyền về người phụ nữ bán ma tuý tại khu vực gần cổng chính chợ Vĩnh Yên, phường Ngô Quyền nhưng chưa xác định được người này là ai. Ngoài lời khai của T thì không có tài liệu nào xác định được cụ thể nhân thân, lai lịch của người đã bán ma tuý cho T, do vậy Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ xử lý sau.

Đối với bà Nguyễn Thị T1 là người cho T mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha BKS: 88S8-0633 ngày 11/8/2014, khi cho T mượn xe bà T1 không biết T sử dụng chiếc xe mô tô để đi mua ma túy. Do đó bà T1 không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo T.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa xác định bị cáo T không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Đối với 0,1037 gam ma túy Heroine và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ VỤ 2184/2024” là mẫu vật hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy;

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha BKS: 88S8-0633 thu giữ của Nguyễn Thanh T, quá trình điều tra xác định chiếc xe thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1951, hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố Láp, phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên. Ngày 11/8/2024, T hỏi mượn xe của bà T1, bà T1 không biết T sử dụng xe mô tô này để đi mua ma túy nên không liên quan đến hành vi phạm tội của T. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Vĩnh Yên đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho bà T1. Do đó Tòa án không xem xét đối với vật chứng trên.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Nguyễn Thanh T 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 12/8/2024).

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 0,1037 gam ma túy Heroin và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ VỤ 2184/2024” là mẫu vật hoàn lại sau giám định (đặc điểm tang vật như biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/11/2024)

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Cỡ chữ