vanban.org

Bản án 191/2022/HSST — Hình sự

TAND Q. Hà Đông, TP. Hà Nội Tuyên án 22/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Anh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!QUẬN HÀ ĐÔNG! CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM!
THÀNH PHỐ HÀ NỘI !

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 191/2022/HSST
Ngày 22/08/2022
!

NHÂN!DANH!

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!QUẬN HÀ ĐÔNG,!THÀNH PHỐ!HÀ NỘI !

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

--Thẩm phán --Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hồng Lý.

--Các Hội thẩm nhân dân:-

1. Ông Nguyễn Văn Thông.

2. Ông Nguyễn Ngọc Minh.-

-- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Đức - Thư ký Tòa án nhân dân

quận Hà Đông.

--Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông-tham-gia-phiên-tòa: Bà

Chu Thị Quỳnh, Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 08 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông,

thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 173/2022/HSST ngày 28 tháng 07 năm 2022 đối với bị cáo:

VŨ ANH T, sinh năm 1995 tại Hà Nội; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú:

số 22, ngõ 52, phố Đại La, phường Tr, quận B, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; con ông Vũ Thành L (đã chết) và con bà Đỗ Thị P; bị cáo chưa có vợ, con; theo danh chỉ bản số 0388 ngày 04/05/2022 tại Công an quận Hà Đông, Công an thành phố Hà Nội bị cáo không có tiền sự; Tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 136/HSST ngày 25/7/2019 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, xử phạt Vũ Anh T 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 05 năm về tội “Cố ý gây thương tích”; bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/04/2022 đến nay (hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an quận Hà Đông - Công an thành phố Hà Nội); Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Đỗ N D – sinh năm 1997.

Hiện trú tại: tổ 10, phường V, quận H, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).!

NỘI DUNG VỤ ÁN:!

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 24/4/2022, Vũ Anh T một mình điều khiển

xe máy nhãn hiệu Piaggio Vespa, sơn màu đen, BKS 29D1- 917.84 đi từ nơi làm việc ở số 02 Đường Thành, phường C, quận K đến khu vực phố A, quận K, thành phố Hà Nội để tìm mua ma túy tổng hợp dạng kẹo để sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp một người nam giới không quen biết (T không biết tên, địa chỉ) và hỏi “anh có hàng không để cho em hai viên”( ý hỏi mua ma túy tổng hợp), người đàn ông trả lời: “Có, 300.000 đồng”. Sau T lấy trong người ra 300.000 đồng đưa cho người đàn ông, người đàn ông này cầm tiền bỏ đi khoảng 10 phút sau quay lại đưa cho T 01 túi nilon bên trong chứa hai viên nén hình ngũ giác màu da cam là ma túy. Sau khi mua được ma túy, T cất túi ma túy vào túi xách và đi về nhà ở phố Nguyễn Quý Đức, quận X, thành phố Hà Nội. Đến khoảng 20 giờ ngày 25/4/2022, T lấy túi ma túy tổng hợp để ở túi xách cất vào trong quần lót đang mặc rồi điều khiển chiếc xe máy Piaggio Vespa, BKS 29D1-917.84 chở Vũ Hoài N, sinh năm 2000, trú tại: xã O, huyện Y, tỉnh Yên Bái (bạn làm cùng công ty) đi ăn tối. Khoảng 02 giờ 25 phút ngày 26/4/2022, khi T điều khiển xe máy phía sau chở N đi đến khu vực đường Phùng Hưng thuộc tổ 1, phường U, quận M, thành phố Hà Nội, thì bị tổ công tác Công an phường Văn Quán, quận Hà Đông phối hợp với tổ công tác C1D3PK02E Công an thành phố Hà Nội phát hiện, bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: !

+!01(một) túi nilon kích thước (05x08) cm, bên trong chứa 02 (hai) viên

nén hình ngũ giác màu da cam, nghi là ma túy;

+ 01 (một) xe máy nhãn hiệu Piagio Vespa, màu đen, BKS: 29D1- 917.84,

số khung: 306391, số máy: 5007428, đã qua sử dụng;

+ 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 12, màu đen, dung lượng 128GB,

đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số 2767/KLGĐ-PC09 ngày 03/5/2022 của

Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội, kết luận: “02 (hai) viên nén hình ngũ giác màu da cam bên trong 01 túi nilôn đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng: 1,097 gam”.

Tại bản cáo trạng số 175/CT-VKS-HĐ ngày 28/07/2022 của Viện kiểm sát

nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội đã truy tố Vũ Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung

bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố

Hà Nội giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Vũ Anh T về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51;

điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 5 Điều 65; Điều 56; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Vũ Anh T từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù. Tổng hợp với 30 tháng

tù cho hưởng án treo của bản án số 136/2019/HSST ngày 25/07/2019 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là từ 48 tháng tù đến 54 tháng tù.

* Xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu huỷ 01 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định

viên Nguyễn Hồng Quân và bị cáo Vũ Anh T (bên trong có ma túy MDMA).

- Không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm

nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:!

Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hà

Đông, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định truy tố của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Anh T khai

nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, biên bản thu giữ tang vật, bản kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận: Hồi 02 giờ 25 phút ngày 26/4/2022, tại khu vực đường Phùng Hưng, tổ 1, phường U, quận M, thành phố Hà Nội, tổ công tác công an phường Văn Quán, quận Hà Đông, phối hợp với tổ công tác C1D3PK02E Công an thành phố Hà Nội, trong khi làm nhiệm vụ đã phát hiện Vũ Anh T có hành vi cất giấu 01 túi nilon kích thước (05x08) cm, bên trong chứa 02 (hai) viên nén hình ngũ giác màu da cam là ma túy loại MDMA, khối lượng 1,097 gam với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang người cùng tang vật. Hành vi nêu trên của Vũ Anh T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt đã được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm

tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội bởi T nhận thức rõ ma túy là mặt hàng nhà nước nghiêm cấm tàng trữ nhưng bị cáo vẫn mua về để sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy mà nó còn góp phần làm gia tăng tệ nạn là nguyên nhân phát sinh ra các loại tội phạm và các bệnh dịch nguy hiểm cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: nhân thân bị cáo có 01 tiền

án chưa được xóa, nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm” nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi vụ án bị phát hiện bị

cáo đã khai nhận thành khẩn toàn bộ hành vi phạm tội của mình với thái độ ăn năn hối cải; bị cáo còn có ông ngoại là Đỗ Chí Th đã có thời gian tham gia kháng chiến chống Mỹ, được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng Nhất, huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở thành người tốt, có ích cho xã hội.

Về quyết định hình phạt: Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi

phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiện hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy về nhân thân bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa, điều đó cũng cho thấy mặc dù bị cáo đã được cơ quan pháp luật cải tạo, giáo dục song bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân, mà ngày càng lao sâu vào con đường phạm tội. Với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo cần phải có mức hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội 1 thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tổng hợp hình phạt: Do bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách nên

khi quyết định hình phạt cần áp dụng khoản 5 Điều 65 và khoản 2 Điều 56 của Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm về tội “Cố ý gây thương tích” tại bản án số 136/2019/HSST ngày 25/7/2019 của Toà án nhân dân quận X, thành phố Hà Nội đối với bị cáo Vũ Anh T.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra phải áp dụng hình

phạt bổ sung bằng tiền đối với Vũ Anh T. Song do bị cáo không có việc làm ổn định và không có điều kiện về kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo T.

Về các vấn đề khác:

- Về nguồn gốc số ma túy đã thu giữ trong vụ án, T khai mua của-đối tượng

nam giới không quen biết tại khu vực phố A, quận K, thành phố Hà Nội. Quá trình điều tra, ngoài lời khai của T, không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra chưa có cơ sở để điều tra làm rõ. Theo đó, Cơ quan điều tra đã tách đối tượng bán ma túy cho T ra khỏi vụ án để tiếp tục điều tra, xác minh; khi nào làm rõ xử lý sau là có căn cứ, Hội đồng xét xử không xét.

- Đối với 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Piagio Vespa, màu đen, BKS:

29D1- 917.84, số khung: 306391, số máy: 5007428, đã thu giữ nêu trên của Vũ Anh T là phương tiện Vũ Anh T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra đã làm rõ được: chiếc xe trên được đăng ký chủ sở hữu mang tên chị Nguyễn A1, sinh năm 1973, trú tại: số 12, ngõ 32 Dốc Vạn Kiếp, Bạch Đằng, quận B, thành phố Hà Nội. Đầu năm 2016, chị A1 mua chiếc xe và đăng ký sử dụng làm phương tiện đi lại. Năm 2020 chị A1 đã bán chiếc xe máy trên cho Đỗ Hồng D sinh năm 1997, trú tại: tổ 10, phường V, quận H, thành phố Hà Nội với giá 60.000.000 đồng. Kết quả tra cứu: xe có số khung, số máy nguyên thủy, xe không nằm trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Anh D trình bày: ngày 26/4/2022 anh D cho T mượn chiếc xe máy trên nhưng anh D không biết T sử dụng vào việc phạm tội. Ngày 14/06/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hà Đông đã ra quyết định xử lý trả lại xe cho anh D quản lý, sử dụng là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không xét.

Đối với anh Vũ Hoài N là người đi cùng Vũ Anh T-đi từ khu vực số 02

Đường Thành, phường C, quận K đến quận Hà Đông khi đi T mang theo ma túy. Kết quả điều tra đã xác định được: khi đi cùng anh N không biết T mang theo ma túy. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Vũ Hoài N là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không xét.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên

Nguyễn N Quân và bị cáo Vũ Anh T (bên trong có ma túy MDMA). Đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nªn tÞch thu tiªu huû.

[10] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của

pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH!

1. Tuyên bố bị cáo Vũ Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h

khoản 1 Điều 52; khoản 5 Điều 65; khoản 2 Điều 56 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Vũ Anh T 18 (mười tám) tháng tù. Tổng hợp với 30 tháng tù cho

hưởng án treo của bản án số 136/2019/HSST ngày 25/07/2019 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 48 (bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/04/2022.

3. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106; khoản 2 Điều

136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (quy định về án phí, lệ phí Tòa án).

+ Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 gói niêm phong, bên ngoài có

chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Quân và bị cáo Vũ Anh T (bên trong có ma túy MDMA) theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/08/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, Hà Nội.

- Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo Vũ Anh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có

quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Đỗ Hồng D vắng mặt

tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết. N¬i nhËn:

- C«ng an quËn Hà Đông;

Cỡ chữ