vanban.org

Bản án 191/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Mộc Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 28/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Mùa A L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Mùa A L 48 (Bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 09/6/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mùa A L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Mùa A L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 191/2018/HS-ST
Ngày 28/8/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tiện và ông Lò Việt Huấn.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Sa Văn Quỳnh, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 197/2018/HSST ngày 10/8/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 200/2018/QĐXXST-HS ngày 16/8/2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Mùa A L, sinh năm 1988 tại huyện V, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản 1, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mùa A T và bà Vàng Thị C (đều đã chết); bị cáo có vợ là Vàng Thị C (Đã ly hôn) và có 02 con; tiền sự: Không; bị cáo có 02 tiền án: Ngày 09/5/2014 Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La xử phạt 14 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; ngày 24/9/2015 Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/6/2018 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 09/6/2018, Mùa A L đi bộ từ nhà đến nhà ông Giàng A C trú tại bản B, xã V, huyện V mượn xe máy nhãn hiệu DETECH, biển kiểm soát xxx để đi chơi. Sau khi mượn được xe máy, L điều khiển xe đi đến bản H, xã V, huyện V tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khi L điều khiển xe đi trên đường Quốc lộ 6 cách quán Kỳ Duyên khoảng 200 mét theo hướng từ Sơn La đến Hà Nội thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 60 tuổi, không quen biết. L đã hỏi mua được của người đàn ông đó 01 túi nilon màu đen bên trong đựng 40 viên hồng phiến (Methamphetamine) với giá 1.500.000 đồng. Sau đó L điều khiển xe máy đi đến huyện Mộc Châu để tìm việc làm thuê. Khoảng 14 giờ 40 phút cùng ngày, L điều khiển xe máy đến địa phận tiểu khu T, thị trấn N, huyện M thì gặp Tổ công tác Công an huyện Mộc Châu đang làm nhiệm vụ yêu cầu dừng xe, kiểm tra, phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng của Mùa A L gồm 01 gói nilon màu đen bên trong đựng 40 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY nghi là Methamphetamine. Tạm giữ 01 chiếc xe máy nhãn hiệu DETECH biển kiểm soát 26K1-9086, đã qua sử dụng.

Ngày 09/6/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu và Phòng PC54 Công an tỉnh Sơn La tiến hành mở niêm phong, xác định số lượng, khối lượng các viên nén màu hồng nghi là Methamphetamine thu giữ của Mùa A L số lượng 40 viên có tổng khối lượng là 3,94 gam. Lấy 10 viên có khối lượng 0,98 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu L. Trưng cầu giám định xác định mẫu ký hiệu L có phải là ma túy không? Loại ma túy gì? Khối lượng của mẫu gửi giám định là bao nhiêu?

Tại Kết luận giám định số 740 ngày 15/6/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu L là chất ma túy; Loại chất Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,98 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 3,94 gam; Loại Methamphetamine.

Đối với người bán ma túy, do Mùa A L không biết họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu DETECH biển kiểm soát xxx được xác định là tài sản hợp pháp của ông Giàng A C, không liên quan đến hành vi phạm tội của Mùa A L, ngày 10/7/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã trả chiếc xe cho ông Giàng A C.

Bản cáo trạng số 152/CT-VKSMC ngày 09/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố Mùa A L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Mùa A L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Mùa A L từ 42 tháng đến 48 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 30 viên = 2,96 gam Methamphetamine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng Test thử ma túy của Mùa A L.

3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về quá trình tiến hành tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tại phiên toà, bị cáo Mùa A L giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì. Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ; biên bản mở niêm phong vật chứng, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến sự việc và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do vậy có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 09/6/2018, bị cáo Mùa A L đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 3,94 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý chất ma tuý của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, nhận thức rõ tác hại của ma túy và việc cất giữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Do vậy, cần quyết định hình phạt nghiêm khắc và phù hợp nhằm răn đe, giáo dục bị cáo, phòng ngừa chung.

Bị cáo thành khẩn khai báo, được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo có 02 lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản. Trong đó lần bị kết án năm 2015 bị cáo trộm cắp tài sản trị giá 1.600.000 đồng, đã sử dụng tình tiết năm 2014 bị kết án về tội trộm cắp tài sản làm tình tiết định tội danh. Do vậy, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp "tái phạm", là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và xét hỏi công khai tại phiên toà thấy bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 30 viên = 2,96 gam Methamphetamine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng Test thử ma túy của Mùa A L: Xét là chất ma túy và đồ vật liên quan, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Thời hạn tạm giam bị cáo còn lại dưới 45 ngày nên Hội đồng xét xử ra Quyết định tạm giam 45 ngày đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Mùa A L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Mùa A L 48 (Bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 09/6/2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 30 viên = 2,96 gam Methamphetamine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng Test thử ma túy của Mùa A L.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Mùa A L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ