vanban.org

Bản án 191/2018/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 04/05/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/05/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bộ luật tố tụng hình sự:

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh T, sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo và không áp dụng hình phạt bổ sung.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh T - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Bộ luật tố tụng hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 191/2018/HS-PT

Ngày: 04-5-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"phúc"thẩm"gồm"có:"

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình

Các Thẩm phán:

1. Ông Trương Công Huấn

2. Ông Nguyễn Tuấn Anh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn H Trân

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên tòa: Bà Hồ Thị Thanh Xuân - Kiểm sát viên

Ngày 04 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ

Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số

137/2018/TLPT-HS ngày 13 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Minh

T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số

08/2018/HSST ngày 06/02/2018 của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố

Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Minh T; sinh ngày: 11/01/1978 tại

Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: đường TL28, tổ 1, khu phố 3, phường

Thạnh L, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: tài xế; trình độ

văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch:

Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Ph; có vợ là bà

Nguyễn Thị Hồng Đ và 02 con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm

2003; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo tại ngoại (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội

dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 09 giờ 25 phút ngày 04/11/2015, Nguyễn Minh T điều khiển

xe ôtô buýt biển số 51B-021.37 lưu thông trên đường Võ Văn Kiệt theo hướng từ cầu Lò Gốm về cầu Rạch Cây. Khi gần đến điểm dừng xe buýt (điểm cầu Rạch Cây) thuộc Phường 10, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, T điều khiển xe chạy chậm lại, đồng thời mở cửa sau của xe để hành khách xuống. Lúc này bà Nguyễn Thị H thấy cửa xe đã mở nên bước xuống xe thì bị té đập đầu vào dãy phân cách nổi. Hậu quả sau tai nạn làm bà H bị thương và được T đưa vào bệnh viện Chợ Rẫy cấp cứu, nhưng đã chết vào lúc 10 giờ ngày 07/11/2015.

Qua khám nghiệm hiện trường đã xác định được như sau: Đường Võ

Văn Kiệt theo hướng từ cầu Lò Gốm về cầu Rạch Cây, Phường 10, Quận 6 được trải nhựa bằng phẳng, áp dụng cho xe lưu thông một chiều và được phân chia thành hai phần đường, phần đường dành cho xe môtô rộng 02 mét, phần đường dành cho xe ôtô rộng 07 mét, giữa hai phần đường này được phân chia bởi dải phân cách nổi. Phần đường dành cho xe ôtô được áp dụng cho 03 làn xe lưu thông theo thứ tự từ làn xe môtô ra ngoài (từ lề phải ra trái) là 04 mét - 3,5 mét - 04 mét. Tai nạn xảy ra tại làn đường bên phải sát dải phân cách nổi (theo hướng về cầu Rạch Cây), mặt đường được trải nhựa bê tông bằng phẳng, khô ráo.

Lấy mép lề phải đường Võ Văn Kiệt (hướng lưu thông từ cầu Lò

Gốm về cầu Rạch Cây) làm lề chuẩn. Điểm mốc là trụ điện TL406, khoảng cách từ tâm trục bánh sau xe buýt biển số 51B-021.37 đến điểm mốc là 43,90 mét, từ điểm mốc đo ra lề chuẩn là 0,90 mét. Tất cả các vị trí, dấu vết đo được như sau:

- Vị trí xe buýt biển số 51B-021.37: Tâm trục bánh trước bên phải đo

vào lề chuẩn là 9 mét, tâm trục bánh sau đo vào lề chuẩn là 9,70 mét và đo vào điểm mốc là 7,80 mét.

- Vị trí vết máu có kích thước là 10x10cm. Tâm vết máu đo vào lề

chuẩn là 9,10 mét, khoảng cách từ tâm vết máu đến tâm trục bánh sau bên phải xe buýt biển số 51B-021.37 là 9,70 mét và đo đến điểm đầu trạm dừng xe buýt theo hướng về cầu Rạch Cây là 14 mét.

- Vạch sơn vẽ khu vực trạm dừng xe buýt trên mặt đường dài 23,40

mét.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 08/2018/HSST ngày 06/02/2018 của

Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về điều

khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46

của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009:

Xử phạt: Nguyễn Minh T 09 (chín) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.

Cấm bị cáo Nguyễn Minh T hành nghề lái xe ôtô 01 (một) năm, kể từ

ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn xử lý vật chứng, án phí và quyền

kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07/02/2018 bị cáo Nguyễn Minh T làm

đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo và hủy bỏ hình phạt

cấm hành nghề lái xe ôtô 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi

phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm

nhẹ, kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh T là trong hạn luật định đã đề nghị

Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, giữ nguyên bản

án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Minh T khai nhận hành vi

phạm tội phù hợp với bản án sơ thẩm đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử

phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo và hủy bỏ

hình phạt cấm hành nghề lái xe ôtô 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình

phạt tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra -

Công an Quận 6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Kiểm sát

viên, các quyết định của bản án sơ thẩm trong quá trình điều tra, truy tố, xét

xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố

tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc

khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng,

người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan

tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện hợp pháp.

[2] Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 04/11/2015, Nguyễn Minh T đã

điều khiển xe ôtô buýt biển số 51B-021.37 lưu thông trên đường Võ Văn

Kiệt theo hướng từ cầu Lò Gốm về cầu Rạch Cây. Mặc dù xe buýt chưa

dừng hẳn lại nhưng T vẫn mở cửa sau của xe để chị Nguyễn Thị H bước

xuống hụt chân té ngã, đập đầu vào dãy phân cách nổi.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 1418/TT.15 ngày 07

tháng 12 năm 2015, Trung tâm Pháp y - Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh

đã kết luận chị Nguyễn Thị H tử vong do: Chấn thương sọ não.

Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử Nguyễn Minh T

về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 là đúng người, đúng tội.

[3] Hội đồng xét xử nhận thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình

tiết giảm nhẹ của Nguyễn Minh T như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo tự nguyện bồi thường toàn bộ chi phí để khắc phục hậu quả, gia đình bị hại có làm đơn bãi nại cho bị cáo để áp dụng các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 là có căn cứ.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Nguyễn Minh T xuất trình giấy xác nhận

hiện bị cáo đang có công việc ổn định, là lao động chính trong gia đình, cha bị cáo bị tai biến hơn mười năm, mẹ bị cáo bị tiểu đường hơn ba năm, mắt mờ, cả cha mẹ bị cáo đều không còn khả năng lao động, không đi lại được cần có người túc trực chăm sóc. Hội đồng xét xử xét thấy sau khi gây ra tai nạn bị cáo đã đưa bị hại đến bệnh viện cấp cứu, khi bị hại chết bị cáo đã cùng với Công ty cổ phần xe khách Sài Gòn bồi thường thỏa đáng cho gia đình bị hại. Với các tình tiết giảm nhẹ như đã nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là có phần nghiêm khắc so với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 5 Điều 202 của Bộ luật hình sự

năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 để cấm bị cáo Nguyễn Minh T hành nghề lái xe ôtô trong thời hạn 01 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù là không cần thiết do bị cáo hiện là lao động chính trong gia đình, đang nuôi cha mẹ già bệnh nặng, cần sử dụng phương tiện giao thông để đi lại và làm việc.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh về việc giữ nguyên mức án đã tuyên đối với Nguyễn Minh T là không phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo xin được hưởng án treo và hủy bỏ việc cấm hành nghề lái xe ôtô 01 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

[5] Bị cáo Nguyễn Minh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của

Bộ luật tố tụng hình sự:

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh T, sửa bản án sơ thẩm,

giảm hình phạt cho bị cáo và không áp dụng hình phạt bổ sung.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về điều

khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp dụng Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm

2017; khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 của Bộ

luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009:

Xử phạt: Nguyễn Minh T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án

treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc

thẩm.

Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân phường Thạnh L, Quận 12, Thành

phố Hồ Chí Minh quản lý giáo dục trong thời gian thử thách.

*Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc

Hội: bị cáo Nguyễn Minh T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo,

kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,

kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Đã giải thích chế định án treo.

Nơi"nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM"

- TAND TC;

(1)

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND Cấp cao tại TP.HCM; (1)

- VKSND cấp cao tại TP.HCM; (1)

- VKSND TP.HCM;

(1)

- VKSND Quận 6;

(1)

- P.PC53 - CATP;

(1)

- Bị cáo;

(1)

- THA Quận 6;

(1)

- TAND Quận 6;

(1)

- UBND nơi BC cư trú;

(1)

- Sở Tư pháp;

(1)

- Lưu, tòa hình sự, hồ sơ (18) (4)

Nguyễn Thị Thanh Bình

Cỡ chữ