- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Thị Hồng Nhung - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thị Hồng N phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 190/2026/HS-ST Ngày: 27/8/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Mỹ Tho
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Quế Phượng
2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 - Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 172/2026/TLST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2026/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2026 và Quyết định thay đổi hội thẩm nhân dân số 43/2026/QĐ-TA ngày 24 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo:
Đặng Thị Hồng N, sinh năm 2007 tại thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi cư trú: Ấp P, xã P, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 7/12; con ông Đặng Hồng P, sinh năm 1984 và mẹ là Lê Thị L, sinh năm 1986; Chồng, con: Chưa.
Tiền án: Không
Tiền sự: Quyết định số 2298/QĐ-UBND ngày 19/9/2025 của Ủy ban nhân dân xã P, thành phố Hồ Chí Minh về việc quản lý sau cai nghiện chất ma túy tại nơi cư trú. Thời hạn 12 tháng kể từ ngày 17/9/2025 đến ngày 17/9/2026.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 06/6/2026 đến nay. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam số 01, Công an thành phố H, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đặng Thị Hồng N là đối tượng đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện chất ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 2298/QĐ-UBND ngày 19/9/2025 của Chủ tich Ủy ban nhân dân xã P, thành phố Hồ Chí Minh với thời gian quản lý là 01 năm kể từ ngày 17/9/2025 đến 17/9/2026. Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 06/4/2026, N đi đến khu vực ngã ba Chợ B thuộc xã L, Thành phố Hồ Chí Minh gặp một người phụ nữ tên T (không rõ nhân thân lai lịch) mua 300.000đồng ma túy dạng đá để sử dụng. Sau đó, đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, N mang ma túy và bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra sử dụng tại nhà ở tại ấp P, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi sử dụng xong thì N đã vứt bộ dụng cụ vào sọt rác. Đến 10 giờ 30 phút ngày 07/4/2026, Công an xã P, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra hành chính, qua xét nghiệm nhanh chất ma tuý trong cơ thể cho kết quả N dương tính với chất ma tuý tổng hợp dạng đá (Methamphetamine).
Quá trình điều tra, Đặng Thị Hồng N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản Kết luận giám định số 7709/KL-KTHS ngày 14/4/2026 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận: Một phong bì màu trắng được niêm phong, có hình dấu của Công an xã P - Công an Thành phố H, cùng các chữ ký ghi họ tên: Huỳnh Minh K, Lê Thành T1, Ngô Chí H, Đặng Thị Hồng N, bên trong có 01 lọ nhựa có nắp màu xanh có chữ ký ghi họ tên “Đặng Thị Hồng N” chứa nước tiểu (ký hiệu mẫu M) tìm thấy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu được ký hiệu mẫu M gửi giám định. H1 lại đối tượng giám định: Mẫu M đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Ngày 28/5/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra các Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Đặng Thị Hồng N và đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 13 - Thành phố Hồ Chí Minh hủy Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở bắt buộc số 161/2026/QĐ-TA ngày 01/06/2026. Ngày 02/06/2026, Tòa án nhân dân khu vực 13 - Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định số 22A/2026 về việc hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở bắt buộc 161/2026/QĐ-TA ngày 01/06/2026. Ngày 06/6/2026 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã lập biên bản bắt Đặng Thị Hồng N để tạm giam.
Tại Bản cáo trạng số 88/CT-VKSKV13 ngày 03/8/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Đặng Thị Hồng N về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật như trên.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Đặng Thị Hồng N từ 2 năm 6 tháng đến 2 năm 9 tháng tù.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố. Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13
- Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Nên hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội và điều luật áp dụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở kết luận:
Đặng Thị Hồng N là đối tượng bị quản lý sau cai nghiện chất ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 2298/QĐ-UBND ngày 19/9/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P, thành phố Hồ Chí Minh, thời gian quản lý từ ngày 17/9/2025 đến ngày 17/9/2026. Vào khoảng 14 giờ 00 ngày 06/4/2026 tại nhà của N thuộc ấp P, xã P, thành phố Hồ Chí Minh, N đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý qua kết quả giám định trong cơ thể của N có chất ma túy loại Methamphetamine.
Do vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đặng Thị Hồng N đã phạm vào tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự đúng như Cáo trạng đã truy tố.
Xét tính chất và mức độ hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến việc quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy và đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện nhưng bị cáo lại tiếp sử dụng trái phép chất ma túy nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Do đó, trong lần phạm tội này, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm nhằm cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không thuộc các trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Không.
Về các vấn đề khác: Đối với người phụ nữ tên T (chưa xác minh được nhân thân lai lịch) đã bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thị Hồng N phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Thị Hồng N 02 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2026.
Áp dụng: Khoản 2 Điều 116 Luật Xử lý vi phạm hành chính: Bị cáo được khấu trừ 40 ngày chấp hành hình phạt tù do bị cáo đã chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ ngày 08/4/2026 đến ngày 05/6/2026 (59 ngày) theo Quyết định số 161/2026/QĐ-TA ngày 01/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Thành phố Hồ Chí Minh. Quy đổi 1,5 ngày chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được tính bằng 01 ngày chấp hành hình phạt tù.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH11 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí.
Buộc bị cáo Đặng Thị Hồng N phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hồ Chí Minh; - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh; - Công an TP. Hồ Chí Minh (PV06, PC10); - VKSND TP. Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 13 TP. Hồ Chí Minh; - THAHS TP. Hồ Chí Minh; - THADS TP. Hồ Chí Minh; - Phòng THADS khu vực 13 TP. Hồ Chí Minh; - Bị cáo; - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Mỹ Tho |