vanban.org

Bản án 190/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đ2 a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thái Thị Ớ. Về hôn nhân: Cho bà Thái Thị Ớ được ly hôn ông Nguyễn Văn T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Đ2 a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 190/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 26-8-2026
V/v ly hôn Ớt – Tam

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Nguyệt Nga

Bà Hồ Thị Kim Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 12, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Đăng Khoa – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2026, tại Tòa án nhân dân Khu vưc 12 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 262/2026/TLST - HNGĐ ngày 04/6/2026 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 210/2026/QĐXXST-HNGĐ, ngày 21 tháng 7 năm 2026, quyết định hoãn phiên Toà số 197/2026/QĐST-HNGĐ, ngày 10 tháng 8 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Thái Thị Ớ, sinh năm 1987.

Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx

Nơi cư trú: ấp H, xã H, tỉnh An Giang.

Chỗ ở hiện nay: Đường C, tổ A, khu phố P, phường B, thành phố Hồ Chí Minh

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1985.

Số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx

Nơi cư trú: tổ F, ấp H, xã H, tỉnh An Giang.

(bà Ớ có đơn xin vắng mặt, ông T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 18/5/2026 nguyên đơn bà Thái Thị Ớ trình bày: Năm 2006 thông qua mai mối và được sự đồng ý của cha mẹ hai bên, bà Ớ, ông T đồng ý kết hôn và tổ chức lễ cưới theo nghi thức truyền thống, và đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện P, tỉnh An Giang(nay là xã H, tỉnh An Giang). Sau khi kết hôn vợ chồng đi làm công nhân ở Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, về sau thì phát sinh mâu thuẫn, tính tình không còn phù hợp nhau, vợ chồng thường xuyên cải nhau do ông T ăn chơi cờ bạc, gây nợ nần, bà Ớ khuyên can nhiều lần nhưng ông T không thay đổi, từ đó vợ chồng thường xuyên cải vả nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông Tam D đi nơi khác sinh sống, vợ chồng chính thức ly thân từ đầu năm 2026 đến nay, mục đích hôn nhân không đạt được, bà Ớ yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn T.

Về con chung: Có hai con chung tên Nguyễn Thị Đ, sinh ngày 15/9/2007 đã trưởng thành, tự lập được và Nguyễn Văn Đ1, sinh ngày 10/11/2009 đang sống với bà Ớ, bà Ớ yêu cầu tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông Tam cấp D1 cho con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Ngày 22/06/2026 bà Thái Thị Ớ yêu cầu Toà án không tiến hành hoà giải và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn ông Nguyễn Văn T1 vắng mặt, không có ý kiến trình bày.

Tài liệu do Toà án thu thập được: Đại diện ban Ấ, xã H cho biết ông Nguyễn Văn Tam S năm 1985 có đăng ký hộ khẩu H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang(nay là xã H, tỉnh An Giang), tuy nhiên hiện nay ông T không có mặt tại địa phương đi đâu làm gì thì địa phương không rõ, về tình trạng hôn nhân giữa bà Ớ và ông T như thế nào thì địa phương không biết.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu về quá trình tiến hành tố tụng và đề nghị như sau:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, bảo đảm các trình tự, thủ tục và quyền tranh tụng tại phiên tòa. Nguyên đơn bà Ớ đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án là chưa thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự, ông T vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T là phù hợp với quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Thái Thị Ớ đối với ông Nguyễn Văn T. Khi ly hôn bà Ớ yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông Tam cấp D1 cho con, ông T vắng mặt không ý kiến về con chung nên không xem xét giải quyết

- Về án phí: bà Thái Thị Ớ phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: bà Ớ yêu cầu ly hôn, giải quyết con chung với ông T nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có nơi cư trú tại ấp H, xã H, tỉnh An Giang nên thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân Khu vực 12 theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Ớ có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông T được tống đạt hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2.] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1 Về hôn nhân: bà Ớ và ông T tự nguyện đi đến hôn nhân năm 2006 nhưng đến ngày 26/3/2010 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh An Giang(nay là xã H, tỉnh An Giang) ngày 26/03/2010 là hôn nhân hợp pháp nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Ông T, bà Ớ chung sống vợ chồng nhưng thường xuyên cải nhau, tính tình vợ chồng không còn phù hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, khi xảy ra cự cải không tìm cách hoà giải mà lại bỏ nhà đi tháng 01/2026 đến nay, vợ chồng ly thân, trong thời gian ly thân không ai qua lại, điện thoại hay có ý hàn gắn tình cảm vợ chồng, nay bà Ớ xin ly hôn với ông T.

Theo quy định tại Điều 19, Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau….”. Thế nhưng vợ chồng ông T, bà Ớ không còn chung sống khoảng hơn 06 tháng nay là khoảng thời gian dài. Điều này chứng tỏ vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cũng như không thể chia sẻ công việc trong gia đình với nhau được nữa, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thống nhất cho bà Thái Thị Ớ được ly hôn ông Nguyễn Văn T.

[2.2] Về con chung: Có hai con chung tên Nguyễn Thị Đ, sinh ngày 15/9/2007 đã trưởng thành và lao động được và Nguyễn Văn Đ1, sinh ngày 10/11/2009 đang sống với bà Ớ, bà Ớ yêu cầu tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông Tam cấp D1 cho con.

Tại bản tự khai ngày 22/6/2026 con chung Nguyễn Văn Đ1 có nguyện vọng được tiếp tục sống chung bà Ớ. Ông T vắng mặt không ý kiến về con chung, vì thế HĐXX không xem xét giải quyết.

[2.3] bà Ớ trình bày tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét giải quyết.

[2.4] Về án phí: bà Thái Thị Ớ phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

Đ2 a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thái Thị Ớ.

Về hôn nhân: Cho bà Thái Thị Ớ được ly hôn ông Nguyễn Văn T.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Đ, sinh ngày 15/9/2007 hiện đã trưởng thành và lao động được, giao con chung Nguyễn Văn Đ1, sinh ngày 10/11/2009 cho bà Ớ được tiếp tục nuôi dưỡng. Con chung đang sống chung bà Ớ, ông T không phải cấp dưỡng cho con.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, cơ quan tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung không yêu cầu giải quyết, nợ chung không có.

Về án phí: bà Thái Thị Ớ phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 307759 ngày 03/6/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Bà Thái Thị Ớ không phải nộp thêm án phí.

Ông Nguyễn Văn T không phải chịu án phí.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông T, bà Ớ, vắng mặt thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ