vanban.org

Bản án 190/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc Th.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc Th được ly hôn với anh Phan Văn T. Giấy chứng nhận kết hôn số 31 ngày 20/8/2020 của Ủy ban nhân dân UBND xã Tuyên Bình Tây, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc Th.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 190/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29/12/2023
V/v tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Xuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Phan Minh Quốc;

2/ Bà Lê Hiếu Xuyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Tiểu Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 436/2023/TLST-HNGĐ ngày 09/10/2023 về việc: “Xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 196/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/11/2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 157/2023/QĐST-HNGĐ ngày 19/12/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc Th, sinh năm 1999 (vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Đầu Sấu, xã Tuyên Bình Tây, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An. Số điện thoại: xxxxxxxxxx

2. Bị đơn: Anh Phan Văn T, sinh năm 1998 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Mỹ Thới, xã Định Mỹ, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Số điện thoại: xxxxxxxxxx

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc Th trình bày: Chị Nguyễn Thị Ngọc Th với anh Phan Văn T do tự tìm hiểu nên tiến tới chung sống với nhau từ năm 2020, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (sau đây gọi tắt là UBND) xã Tuyên Bình Tây, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An vào 20/8/2020. Sau khi cưới anh chị chung sống ở nhà cha mẹ chị Th. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 01 con chung tên Phan Nguyễn Thiên Di, sinh ngày 31/01/2021. Đến đầu năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, mâu thuẫn về kinh tế, anh T không quan tâm vợ, vợ chồng hay cự cãi, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Cũng vào đầu năm 2022 anh T bỏ về nhà cha mẹ ruột sống, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay.

Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân không thể hàn gắn và kéo dài nên chị Th yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phan Văn T. Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Phan Nguyễn Thiên Di, sinh ngày 31/01/2021 (hiện đang sống với mẹ). Sau khi ly hôn chị Th yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng. Về quan hệ tài sản: Về tài sản chung: Không có, về nợ chung: Không có.

Đối với bị đơn anh Phan Văn T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Phan Văn T nhưng anh T đã vắng mặt không lý do nên không có lời khai của anh T.

Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của chị Th, anh T tại biên bản lấy lời khai ngày 15/11/2023 của người làm chứng chị Võ Thị Hồng Ngọc (em gái họ của chị Th) thể hiện: “…anh T, chị Th trước đây do tự tìm hiểu mới tiến tới chung sống năm 2020, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn. Tôi thấy sau khi kết hôn thì chị Th vẫn sống ở nhà mẹ ruột, anh T vẫn ở quê Thoại Sơn lâu lâu mới thăm vợ con. Mấy tháng đầu anh T, chị Th sống hạnh phúc nhưng đến khi chị Th sinh con thì vợ chồng anh chị thường hay cự cãi, không rõ cự cãi về vấn đề gì, chị Th cũng không nói nhưng mà tôi nhận thấy là anh chị đã không quan tâm nhau, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nữa. Từ ngày lễ 30/4/2023 thì anh T không còn tới lui thăm vợ con nữa…”.

Tại phiên tòa: Chị Nguyễn Thị Ngọc Th vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Phan Văn T vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng: Về cơ bản vụ án đã được tiến hành đúng theo trình tự pháp luật quy định, đã xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân, có đủ cơ sở đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Chị Th được ly hôn với anh T. Về con chung: Giao con chung tên Phan Nguyễn Thiên Di, sinh ngày 31/01/2021 cho chị Th được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Th không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét do chị Th trình bày không có. Về án phí: Chị Th yêu cầu ly hôn nên phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (sau đây gọi tắt là HĐXX) nhận định:

Về tố tụng:

Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con; Bị đơn anh Phan Văn T cư trú tại ấp Mỹ Thới, xã Định Mỹ, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Theo quy định tại Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn. Tại phiên tòa, anh T vẫn vắng mặt không có lý do là từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự; Chị Nguyễn Thị Ngọc Th vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc Th chung sống với anh Phan Văn T có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tuyên Bình Tây, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An vào ngày 20/8/2020. Do vậy, căn cứ vào Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của chị Th, anh T phù hợp với lời khai của chị Th về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, cụ thể: Thời gian đầu vợ chồng chị Th và anh T chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T không lo cho kinh tế gia đình, không quan tâm vợ con. Mâu thuẫn kéo dài mặc dù chị Th đã cho anh T nhiều cơ hội sửa đổi nhưng vẫn không đạt kết quả, vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay, trong thời gian ly thân vợ chồng không còn quan tâm nhau.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án anh T có nhận thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng khác của Tòa án nhưng không đến Tòa để tham dự các phiên hòa giải cũng như xét xử, không gửi tờ tự khai thể hiện ý kiến của mình là mặc nhiên thừa nhận có sự mâu thuẫn giữa vợ chồng và không có ý muốn hàn gắn. Do đó chị Th đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn là có cơ sở.

Căn cứ vào quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Th và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Th đối với anh T.

Về con chung: Qua chứng cứ chị Nguyễn Thị Ngọc Th cung cấp cũng như kết quả xác minh tình trạng hôn nhân thì chị Nguyễn Thị Ngọc Th và anh Phan Văn T có Phan Nguyễn Thiên Di, sinh ngày 31/01/2021 hiện đang sống với mẹ. Nhận thấy chị Th đủ điều kiện trực tiếp nuôi con chung và cũng có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Di. Trong quá trình giải quyết vụ án anh T không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của chị Th về con chung, cháu Di cũng chưa đủ 36 tháng tuổi. Do vậy, HĐXX áp dụng các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, giao con chung tên Phan Nguyễn Thiên Di, sinh ngày 31/01/2021 cho chị Nguyễn Thị Ngọc Th được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi 02 cháu thành niên (đủ 18 tuổi), tự lao động được là phù hợp và đảm bảo được các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển về thể chất, tinh thần, việc học tập, môi trường sống của 02 cháu; Chị Th phải tạo điều kiện cho anh T được quyền đến thăm nom, chăm sóc các con chung, không ai được cản trở; Khi cần thiết anh T có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Th không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Th trình bày không có nên HĐXX không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Th là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị về giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định nêu trên của Tòa án.

Các đương sự được kháng cáo bản án theo quy định của Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc Th.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc Th được ly hôn với anh Phan Văn T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 31 ngày 20/8/2020 của Ủy ban nhân dân UBND xã Tuyên Bình Tây, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An không còn giá trị pháp lý.

2. Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc Th được tiếp tục nuôi con chung tên Phan Nguyễn Thiên Di, sinh ngày 31/01/2021; Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền ngăn cản. Người không trực tiếp nuôi con chung nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các đương sự có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Phan Văn T do chị Nguyễn Thị Ngọc Th không yêu cầu. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các đương sự có thể yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung.

4. Về tài sản chung và nợ chung:

- Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị Ngọc Th trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.

- Về nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị Ngọc Th trình bày không có nên không đặt ra giải quyết. Tuy nhiên, sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị Nguyễn Thị Ngọc Th và anh Phan Văn T phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

5. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Ngọc Th phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0012098 ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Như vậy, chị Th đã thực hiện xong nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm. Anh Phan Văn T không phải chịu án phí.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ