vanban.org

Bản án 190/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị Thanh X đối với ông Nguyễn Văn H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh X được ly hôn với ông Nguyễn Văn H. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thanh X được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Trúc N, sinh ngày 04/4/2014. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Thanh X tranh chấp ly hôn ông Nguyễn Văn H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị Thanh X đối với ông Nguyễn Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 190/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 16 - 7 - 2022
V/v “tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tho.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Chí Lin.

2. Ông Lý Văn Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo - là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.

Ngày 16 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 302/2022/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 187/2022/QĐXX-ST ngày 09/6/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 127/2022/QĐST – HNGĐ ngày 27/6/2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh X, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Ấp Bùng B, xã Hòa Khánh T, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1977.

Địa chỉ: Ấp Bùng B, xã Hòa Khánh T, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh X thể hiện:

Bà X và ông Nguyễn Văn H xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình Hòa Nam, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An vào ngày 14/3/2002. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên gây gổ, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Ông bà đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

Về con chung: Quá trình chung sống, bà X và ông H có 02 con chung tên Nguyễn Thị Trúc H, sinh năm 2003 đã trưởng thành và Nguyễn Trúc N, sinh ngày 04/4/2014. Sau khi ly hôn, bà X yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Trúc N, sinh ngày 04/4/2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con;

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết;

Về nợ chung: Không có.

Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn ông Nguyễn Văn H tham gia tố tụng để giải quyết vụ án nhưng ông H vắng mặt không lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến nên không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định như sau:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Thanh X nộp đơn khởi kiện ly hôn với ông Nguyễn Văn H có địa chỉ cư trú tại xã Hòa Khánh T, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An nên căn cứ vào Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp về ly hôn, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh X có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, căn cứ vào Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án trên thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Tòa án chỉ tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải.

Bà X có đơn xin xét xử vắng mặt. ông H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà X, ông H theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà X và ông H tự nguyện tiến đến hôn nhân có đăng ký kết hôn ngày 14/3/2002 tại Uỷ ban nhân dân xã Hòa Khánh T, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ phần trình bày của bà X về mâu thuẫn của vợ chồng không thể hàn gắn, hiện không còn sống chung, không quan tâm lo lắng cho nhau, bà X vẫn giữ yêu cầu ly hôn với ông H. Bị đơn ông H đã được Tòa án thực hiện các thủ tục tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng ông H vẫn vắng mặt không có lý do, chứng tỏ ông H không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Qua đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà X và ông H là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân của các bên không đạt được, nên căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thanh X .

Về con chung: Quá trình chung sống bà X và ông H có 02 con chung tên Nguyễn Thị Trúc H, sinh năm 2003 đã trưởng thành và Nguyễn Trúc N, sinh ngày 04/4/2014. Sau khi ly hôn, bà X yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Trúc N, sinh ngày 04/4/2014. Xét thấy, cháu Nhi từ lúc sinh ra đến nay cháu sống cùng mẹ, được mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục phát triển khỏe mạnh, toàn diện, cháu đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng sống cùng mẹ nên căn cứ vào điều kiện của các bên; quyền lợi về mọi mặt và lợi ích của con chung, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Nguyễn Trúc N cho bà X tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà X không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Bà X trình bày không có và không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

Về nợ chung: Các đương sự trình bày không có.

Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh X phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Điều 18, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị Thanh X đối với ông Nguyễn Văn H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh X được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thanh X được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Trúc N, sinh ngày 04/4/2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con do Bà X không yêu cầu.

Bên không nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con theo luật định.

Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Về tài sản chung: Không có và không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh X phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà X đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010045 ngày 06/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa. Bà X đã nộp xong.

Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Thanh X và ông Nguyễn Văn H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Chí Lin – Lý Văn Hùng

Lê Thị Tho Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Long An;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- VKSND huyện Đức Hòa;

- Chi cục THADS huyện Đức Hòa;

- Các đương sự;

- Uỷ ban nhân dân xã Hòa Khánh T, huyện Đức Huệ (để ghi vào sổ hộ tịch);

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu VP.

Lê Thị Tho THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Lin – Trương Thị Kim Cương

Lê Thị Tho THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Kim Cương – Trần Thị Đổi

Lê Thị Tho THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Tho

Nguyễn Chí Lin – Lý Văn Hùng

Cỡ chữ