- Tranh chấp gì? án hình sự — "Châu VĂn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Châu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁNNHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH ––––––––––––––– Bản án số: 190 /2021/HSST Ngày 15/12/2021 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Minh Ngà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Tuấn và bà Trịnh Thị Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Loan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lã Hải Long - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 196/2021/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 182/2021/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Châu Văn T; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam;
Sinh ngày: 15/8/1994, tại huyện V, tỉnh Quảng Ninh;
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 8/12;
Họ tên bố: Châu Văn N; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H
Vợ: Ma Thị H; Có 01 con, sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 23/8/2021, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị T - sinh năm 1987; Địa chỉ Thôn Đ xã Đ, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
* Người chứng kiến: Anh Đỗ C - sinh năm: 1976;Nơi ĐKNKTT: Tổ 3, khu 1, phường c, thành phố C tỉnh Quảng Ninh. Anh Nguyễn Văn C – sinh năm: 1959; Nơi ĐKNKTT: Tổ 111, khu 10B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 00 phút ngày 23/8/2021, tại tổ 31, khu 4A2, phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp với Công an phường Cửa Ông bắt quả tang Châu Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích để sử dụng. Thu giữ của Tuyên:
- 01 gói giấy màu trắng bọc 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục;
- 01 điện thoại Nokia, sim số 0989805398; 01 xe máy điện màu đỏ có chữ Pranavera, biển số 14MĐ7- 612.80.
Tại bản kết luận giám định số 1607/KLGĐ ngày 27/8/2021, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Chất bột màu trắng dạng cục thu của Châu Văn Tuyên, là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,179 gam.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T khai nhận: Tuyên nghiện ma túy từ năm 2016, loại ma túy thường sử dụng là Heroine, khoảng 10h30 ngày 23/8/2021, bị cáo có nhu cầu sử dụng ma túy, bị cáo đã gọi điện cho Nguyễn Ngọc Tú (bạn bè xã hội, ở phường Cửa Ông, số điện thoại 0915538596), nhờ mua ma túy, bị cáo nói với Tú là để dùng thử, nếu được sẽ mua tiếp, hẹn gặp ở cầu 1 Vân Đồn. Bị cáo đã điều khiển xe máy điện, biển số 14MĐ7- 612.80, mượn của chị Lê Thị T, là hàng xóm gần nhà Tuyên, đến chỗ hẹn, đi cùng còn có anh Đinh Việt Trung là anh họ của bị cáo. Đến khu vực chợ Cửa Ông, thì bị cáo bảo Txuống xe đợi, còn bị cáo và Tú tiếp tục đến ngõ cạnh cây xăng phường Cửa Ông, bị cáo đứng ngoài đợi, Tú đi vào ngõ rồi quay lại đưa cho bị cáo 01 gói giấy màu bạc, bên trong chứa ma túy Heroine, bị cáo đã cho Tú 40.000 đồng, sau đó Tú bỏ đi. Khi đang đi tìm chỗ sử dụng ma túy thì bị cáo bị Công an kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Số tiền 40.000 đồng là tiền của bị cáo, T không biết việc bị cáo đi mua ma túy sử dụng.
Người chứng kiến là anh Đỗ Quý C và anh Nguyễn Văn C vắng mặt tại phiên tòa, nhưng tại cơ quan điều tra đều có lời khai thể hiện nội dung: Hồi 11 giờ 00 phút ngày 23/8/2021, tại tổ 31, khu 4A2, phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, các anh chứng kiến công an thu giữ tại tay phải của Châu Văn T 01 gói giấy màu trắng bọc 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục, Tuyên khai nhận đó là ma túy Heroine, ngoài ra còn thu giữ của bị cáo 01 điện thoại Nokia, 01 xe máy điện màu đỏ (BL 51, 53).
Tài liệu có trong hồ sơ ngoài kết luận giám định ma túy (BL 32); Lời khai của người chứng kiến còn có các tài liệu khác: Biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 24, 25); Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (BL 27); Bản ảnh vật chứng (BL 36, 37); Biên bản kiểm tra điện thoại thu giữ của bị cáo (BL 28); Sơ đồ vị trí địa điểm bị cáo nhận ma túy do Tú đưa (BL 61A ) các tài liệu này đều có nội dung phù hợp lời khai của bị cáo. Tài liệu xác minh của Cơ quan điều tra, xác minh chủ sở hữu chiếc xe máy điện màu đỏ có chữ Pranavera, biển số 14MĐ7- 612.80 là của chị Lê Thị Thêm. (BL 38-40).
Tại bản cáo trạng số 203/CT – VKSCP ngày 19/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố Châu Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa kiểm sát viên trình bày luận tội bị cáo với đề nghị kết tội bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Châu Văn T từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 23/8/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; ngoài ra có quan điểm xử lý vật chứng theo quy định.
Tại phần tranh luận, bị cáo không tranh luận với kết luận của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo thực sự ăn năn hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cẩm Phả, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Châu Văn T khai nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người chứng kiến, phù hợp kết luận giám định ma túy, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong vật chứng và phù hợp tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Trên cơ sở các chứng cứ trên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ 00 phút ngày 23/8/2021, tại tổ 31, khu 4A2, phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả, Châu Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,179 gam chất ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng, thì bị bắt quả tang.
Hành vi này của bị cáo Châu Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, tội danh có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù. Cáo trạng truy tố bị cáo đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện làm cho người sử dụng phải lệ thuộc vào nó, ma túy làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, kinh tế của người sử dụng và là nguồn phát sinh tội phạm nguy hiểm khác cho xã hội. Pháp luật Nhà nước ta xử lý nghiêm khắc đối với các tội về ma tuý, mục đích để ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn ma túy trong xã hội. Bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu được tác hại của ma tuý đối với người sử dụng và biết được sự nghiêm cấm của pháp luật đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng vì lối sống không có trách nhiệm với bản thân với xã hội, bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo góp phần làm gia tăng tệ nạn ma túy tại địa phương, gây mất trật tự, trị an xã hội. Vì vậy cần xử lý cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Về vật chứng: Số mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động Nokia thu của bị cáo, bị cáo đã dùng nhận điện thoại của Tú, xác định là vật dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước; 01 xe máy điện màu đỏ có chữ Pranavera, biển số 14MĐ7-612.80 là của chị Lê Thị Thêm, chị Thêm không biết bị cáo mượn xe để đi mua ma túy, cơ quan điều tra đã cho chị Thêm là phù hợp, nên không đề cập giải quyết.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Đối với người tên Tú, theo bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch, nên không đủ căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Châu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Châu Văn T 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 23/08/2021.
Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
-Tịch thu tiêu huỷ: số ma túy hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 1607/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh;
-Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ màu xanh dạng phím bấm, model: 1110i, màn hình bị nứt vỡ, imei: 3500055/02/050251, kèm 1 pin và 01 sim, điện thoại đã qua sử dụng.
(Hiện trạng toàn bộ vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 69/BB-THA ngày 09/12/2021 của cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả).
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Châu Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Báo cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.
THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- Tòa án nhân dân tỉnh QN;
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh QN;
- Viện kiểm sát nhân dân TP. Cẩm Phả
- Công an TP Cẩm Phả, CQ THA hình sự;
- Trại tạm giam Công an tỉnh QN;
\
- Chi cục thi hành án dân sự TP.Cẩm Phả;
- Bị cáo,
Đặng Thị Minh Ngà -Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
- Lưu hồ sơ, lưu văn phòng.
\
Thành phần Hội đồng xét xử
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Hồng Thái – Đỗ Thị Lan
Đặng Thị Minh Ngà Các thành viên Hội đồng xét xử
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Đặng Thị Minh Ngà
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh QN; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh QN; - Viện kiểm sát nhân dân TP. Cẩm Phả \ - Công an TP Cẩm Phả, CQ THA hình sự; - Trại tạm giam Công an tỉnh QN; - Chi cục thi hành án dân sự TP.Cẩm Phả; - Bị cáo, - Lưu hồ sơ, lưu văn phòng. | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Thị LinhNgà |