- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Kim T - Đinh Duy A"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| N N N N N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| T NH B N TRE Bản án số: 190/2020/HNGĐ-ST Ngày 19-6-2020 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NG Ĩ VI T NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUY N CH LÁCH, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đoàn Minh Tư.
Bà Đinh Hồ Mỹ Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 409/2020/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2019 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2020, giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Bà Trần Thị Kim T - Sinh năm: 1986.
Địa chỉ: 394/65 ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre (có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 27 tháng 4 năm 2020).
2/ Bị đơn: Ông Đinh Duy A - Sinh năm: 1978
Địa chỉ: 394/65 ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
NỘI NG V N
Trong đơn khởi kiện, biên bản phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, nguyên đơn là bà Trần Thị Kim Ttrình bày:
+ Về hôn nhân: Bà và ông Đinh Duy A quen biết và tự nguyện kết hôn vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận E, thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 17/11/2009 và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Ông bà chung sống hạnh phúc được khoảng năm năm thì phát sinh mâu thuẩn mà nguyên nhân chủ yếu là do ông A đam mê cá độ bóng đá, thường xuyên đi chơi, không chịu làm việc để lo kinh tế gia đình và cũng không ở nhà phụ lo cho các con. Ông bà đã sống ly thân với nhau từ năm 2016 cho đến nay. Cho rằng tình cảm vợ chồng là không còn, không thể đoàn tụ, nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông A , không yêu cầu gì về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
+ Về con: Bà và ông A có hai người con chung là Đinh Thiên P - Sinh ngày 30 tháng 01 năm 2011 và Đinh Ngọc Phương K - Sinh ngày 27 tháng 10 năm 2015, hai người con này hiện đang sống chung với bà. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được quyền nuôi hai người con nêu trên, không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản, về nợ: Bà T xác định bà và ông A không có tài sản chung, không có nợ của ai khoản nợ nào nên không yêu cầu giải quyết.
- Bị đơn là ông Đinh Duy A vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa sơ thẩm và cũng không gửi cho Tòa án văn bản nào thể hiện ý kiến của ông có liên quan đến vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu:
+ Thẩm phán thụ lý, giải quyết, thực hiện đúng quy định tại Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo pháp luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử sơ thẩm, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
+ Về việc giải quyết vụ án: Sau khi tóm tắt nội dung vụ án, phân tích, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre đề nghị Hội đồng xét xử:
• Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Kim T đối với ông Đinh Duy A .
• Về con: Giao cho bà T được quyền trực tiếp hai nuôi người con chung là Đinh Thiên P - Sinh ngày 30 tháng 01 năm 2011 và Đinh Ngọc Phương K - Sinh ngày 27 tháng 10 năm 2015. Bà T không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con nên ông A không phải cấp dưỡng nuôi con.
• Về tài sản, về nợ: Không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
N N Đ N Ủ
N:
[1] Bà Trần Thị Kim T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với ông Đinh Duy A có địa chỉ tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre thụ lý, giải quyết là phù hợp với quy định tại các điều 28, 35 và 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Mặc dù được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bị đơn là ông Đinh Duy A vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm, đồng thời bà T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và xét xử vắng mặt bà T, ông A là phù hợp với quy định tại các điều 207, 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
3 Về hôn nhân: Việc kết hôn giữa bà T và ông A là phù hợp với quy định của pháp luật. Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ cho thấy giữa bà T và ông A đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay mà không thể đoàn tụ được. Bên cạnh đó, dù đã được triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng ông A vẫn vắng mặt, trong khi đó bà T vẫn kiên quyết yêu cầu ly hôn; từ đó cho thấy quan hệ hôn nhân giữa ông bà đã đến mức trầm trọng, không thể đoàn tụ, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của bà T về việc ly hôn với ông A là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về con: Bà T yêu cầu được nuôi hai người con chung giữa bà với ông A là Đinh Thiên P - Sinh ngày 30 tháng 01 năm 2011 và Đinh Ngọc Phương K - Sinh ngày 27 tháng 10 năm 2015. Xét thấy, bản thân bà T đang là người trực tiếp nuôi con, người con tên Đinh Thiên P có nguyện vọng được sống với bà T, ông A vắng mặt và không gửi cho Tòa án văn bản có yêu cầu gì liên quan đến việc nuôi con; do vậy cần chấp nhận yêu cầu về việc nuôi con của bà T là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.
[5] Về việc cấp dưỡng, về tài sản, về nợ: Ông A vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa sơ thẩm và cũng không gửi cho Tòa án văn bản nào thể hiện ý kiến của ông có yêu cầu gì về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn, về tài sản, về nợ; bà T không yêu cầu gì về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn, không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con, xác định là không có tài sản và không nợ; đồng thời Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre cũng không nhận được đơn yêu cầu giải quyết về nợ có liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
6 Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà T phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.
V các trên,
Ế Đ N
Căn cứ vào các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; các điều 5, 147, 271, 273, 278, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên:
1/ Về hôn nhân: Bà Trần Thị Kim T được ly hôn với ông Đinh Duy A.
2/ Về con:
- Giao cho bà Trần Thị Kim T được quyền tiếp tục, trực tiếp nuôi hai người con chung giữa bà với ông Đinh Duy A là Đinh Thiên P - Sinh ngày 30 tháng 01 năm 2011 và Đinh Ngọc Phương K - Sinh ngày 27 tháng 10 năm 2015 (hai người con này đang sống chung với bà T).
- Bà Trần Thị Kim T không yêu cầu ông Đinh Duy A cấp dưỡng nuôi con.
- Ông Đinh Duy A có quyền thăm nom con; không ai được cản trở ông A thực hiện quyền này. Trong trường hợp ông A lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì bà T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông A.
- Vì lợi ích của con chung, bà Trần Thị Kim T, ông Đinh Duy A hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Khi có lý do chính đáng, bà Trần Thị Kim R, ông Đinh Duy A có thể thỏa thuận giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con, phương thức cấp dưỡng nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
3/ Về việc cấp dưỡng gi a v chồng khi y hôn, về tài s n, về n : Ông Đinh Duy A vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa sơ thẩm và cũng không gửi cho Tòa án văn bản nào thể hiện ý kiến của ông có yêu cầu gì về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn, về tài sản, về nợ; bà Trần Thị Kim T không yêu cầu gì về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn, xác định là không có tài sản chung và không có nợ; đồng thời Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách cũng không nhận được đơn yêu cầu giải quyết về nợ có liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử sơ thẩm không xem xét, giải quyết.
4/ Về án ph dân s sơ thẩm: Bà Trần Thị Kim T phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn; nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là: 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006943 ngày 13 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Bến Tre; bà Trần Thị Kim T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5/ Về quyền kháng cáo, kháng nghị đ i v i n án: Bà Trần Thị Kim T, ông Đinh Duy A vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết; Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre giải quyết lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - Bà Trần Thị Kim T(01 bản); - Ông Đinh Duy A (01 bản); - VKSND huyện Chợ Lách (01 bản); - Chi cục T.H.A.D.S huyện C (01 bản); - UBND p. T, quận E, tp. HCM (01 bản); - Phòng KTNV-T.H.A TAND tỉnh Bến Tre (01 bản); - Lưu: Hồ sơ vụ án(01 bản), Vp(01 bản), Bp(01 bản). | M. ỘI ĐỒNG XÉ XỬ SƠ ẨM ẨM P N- Ủ Ọ P IÊN (Đã ký) Nguyễn hị Ngọc uyền |