- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Văn Bắc cùng đồng phạm 4 bị cáo - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 157 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lâm Văn B, Trương Hoàng Đ, Nguyễn Hoàng H và Lương Quốc Hi phạm tội "Bắt, giữ người trái pháp luật".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự Xử phạt; Điều 157 Bộ luật hình sự Xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 190/2019/HS-ST Ngày 17 - 10 - 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Thái Hoàng Đắc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hà Trọng Tâm
Ông Võ Thanh Liêm
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thúy An - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Ng Bảo Em - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 183/2019/HSST ngày 13 tháng 9 năm 2019 đối với các bị cáo:
1. Lâm Văn B, sinh năm 1972 (có mặt)
Thường trú: Ấp M, xã Ng H, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau; Chổ ở: Khóm x, thị trấn Đầm Dơi, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Làm vuông; Trình độ học vấn: 1/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lâm Văn S và bà Đào Thị C; Vợ: Trần Thị T, con: 01 người (sinh năm 2000); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 02/4/2003 bị Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xử phạt 20 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, chấp hành xong hình phạt ngày 13/01/2004. Ngày 06/12/2004 bị Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xử phạt 24 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, chấp hành xong hình phạt ngày 29/5/2006. Ngày 30/01/2013, bị Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau ra Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng về hành vi “Nhiều lần có hành vi uống rượu đánh người, cùng đồng bọn đánh người gây thương tích, gây rối làm mất trật tự an toàn xã hội”, chấp hành xong ngày 31/8/2015. Ngày 21/3/2016, bị Chủ tịch UBND huyện Đầm Dơi xử phạt 10.000.000 đồng về hành vi “Dùng sân nhà của mình để tổ chức đá gà ăn tiền”, nộp phạt xong ngày 17/5/2016. Ngày 30/6/2017, bị Chủ tịch UBND huyện Đầm Dơi xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép”, nộp phạt xong ngày 31/7/2017; bị khởi tố và bị tạm giữ ngày 20/5/2019 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay.
2. Trƣơng Hoàng Đ, sinh năm 1995 (có mặt)
Nơi cư trú: Ấp T, xã Tân Đ, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Nguyên là cán bộ; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn T và bà Ng Hồng T; Vợ: Ngô Kim N, con: 01 người (sinh năm 2019); Tiền án, tiền sự: Không; bị khởi tố và bị tạm giữ ngày 20/5/2019 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay.
3. Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1975; tên gọi khác: Tý (có mặt)
Nơi cư trú: Số x, đường NĐT, khóm y, phường 5, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 10/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ng Hoành và bà Huỳnh Thị Ph; Vợ: Trần Xuân X (đã ly hôn), con: 02 người (lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2007); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 17/8/2011 bị Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt ngày 14/12/2012. Ngày 12/12/2010 bị Công an phường 7, thành phố Cà Mau xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Đánh nhau gấy mất an ninh trật tự”, nộp phạt xong ngày 16/12/2010; bị khởi tố và bị tạm giữ ngày 20/5/2019 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay.
4. Lƣơng Quốc Hi, sinh năm 1983 (có mặt)
Thường trú: Khóm D, phường 7, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau; Chổ ở: Khóm 5, phường 9, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ học vấn: 8/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Duy H và bà Lê Thị H; Vợ: Huỳnh Thanh T, con: 01 người (sinh năm 2016); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 21/3/2016, bị Chủ tịch UBND huyện Đầm Dơi xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép”, nộp phạt xong ngày 17/5/2016; bị khởi tố và bị tạm giữ ngày 20/5/2019 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay.
- Người bào chữa cho bị cáo Hi: Luật sư Đặng Minh Hải – Văn phòng luật sư Minh Hải, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Cà Mau (có mặt)
- Bị hại: Lâm Chí N, sinh năm 1995 (xin vắng mặt)
Trú tại: Ấp T, xã Tân Đ, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 6/2018, Lâm Chí N vay của Trương Hoàng Đ số tiền 150.000.000 đồng, trong đó 95.000.000 đồng lãi suất 30%/tháng và 55.000.000 đồng lãi suất 15%/tháng. Tháng 11/2018, Ng trả cho Đ 70.000.000, còn lại 80.000.000 đồng và tiền lãi Ng không có khả năng trả. Đ nhiều lần yêu cầu Ng trả số tiền nợ nhưng Ng không trả và lẫn tránh Đ. Đ quen biết và nhờ Lâm Văn B lấy số tiền mà Ng nợ Đ, B đồng ý. Bắt nói với Đ khi nào gặp Ng thì gọi điện thoại cho B nói chuyện kêu Ng trả tiền cho Đ. B nhiều lần nói chuyện với Ng qua điện thoại yêu cầu Ng trả tiền cho Đ nhưng Ng vẫn không trả.
Khoảng 14 giờ ngày 19/5/2019, Đ gọi điện thoại rủ bạn là Nguyễn Chí Th ở ấp Thuận Phước, xã Tân Thuận, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau đến xã Tân Đức để uống cà phê, sau đó rủ Th lên thành phố Cà Mau tìm Ng đòi tiền, Th đồng ý. Đ lấy xe của Th biển số 94B1-091.33 để chở Th.
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 19/5/2019, Đ và Th đến nơi Ng đang ở là khu đất Ng thuê của ông Ng Văn Đấu thuộc ấp 2, xã An Xuyên, thành phố Cà Mau để nuôi dê. Do trong nhà Ng có người, Đ kêu Ng ra quán cà phê nói chuyện. Đ lấy xe chở Ng và Th đến quán cà phê Vườn Ổi cách nhà Ng 219m nói chuyện để đòi tiền. Khi đến quán Đ, Th và Ng mỗi người nằm một võng. Đ hỏi Ng về số tiền mà Ng nợ Đ tính sao? Ng nói với Đ là chưa có tiền để từ từ Ng trả, Đ không đồng ý nên lấy điện thoại của Đ số 0915.828.055 gọi cho Lâm Văn B (số điện thoại 0911.454.555), Đ đưa điện thoại cho B nói chuyện với Ng. B hỏi Ng về số tiền nợ Đ sao không trả, Ng nói với B là chưa có tiền để từ từ Ng trả. B nói với Ng là sẽ cho người chở Ng về Đầm Dơi gặp B và tắt điện thoại. Ng không nói gì với Đ nên Đ gọi điện thoại cho B nói “vậy rồi bây giờ tính sao chú bảy”, B nói “chở nó về”, Đ nói “không có xe”, B nói “rồi, rồi” và tắt điện thoại. B dùng điện thoại của mính số 0911.454.555 gọi cho Ng Hoàng H số điện thoại 0916.520.052 kêu H liên hệ với Đ đến chở Ng về Đầm Dơi cho B, H đồng ý. B lấy số điện thoại của Đ cho H để H liên lạc với Đ đến chở Ng về Đầm Dơi cho B.
Sau khi B cho số điện thoại của Đ, H gọi cho Đ hỏi địa điểm đang ở ấp 2, xã An Xuyên. Do tại nhà H có Ng Tấn Phát là cháu ruột gọi H bằng cậu nên H rủ Phát đi theo chơi, Phát đồng ý nhưng mỗi người đi một xe. H điều khiển xe mô tô biển số 69K3-3063 chạy trước, Phát điều khiển xe 68F7-7777 chạy sau. Do H và Đ không biết mặt nhau nên H gọi điện thoại cho Đ đón, H và Phát vào quán Vườn ổi ngồi. Lúc này, Đ kêu Ng ra xe cho H chở về Đầm Dơi gặp B, Ng không đồng ý đi và nói với Đ là về gia đình Ng để nói chuyện, Đ không đồng ý mà bắt Ng pH lên xe cho H chở đi. Ng không đồng ý đi nên lấy lý do xin Đ về chổ Ng đang ở là trại nuôi dê để thay đồ, Đ không cho mà kêu Ng pH lên xe cho H chở về Đầm Dơi. Phía Đ có nhiều người nếu Ng không đi sẽ bị đánh nên Ng pH lên xe cho H chở, Đ chở Th, còn Phát đi một mình. Trên đường đi H rủ Phát cùng đi xuống Đầm Dơi chơi, Phát từ chối và bỏ đi uống cà phê với bạn. Còn Đ, Th và H chở Ng về Đầm Dơi, Đ chở Th đi trước, H chở Ng đi sau.
Trên đường đi H gọi điện thoại cho Lương Quốc Hi, hỏi Hi “đang ở đâu”, Hi trả lời là “đang ở VinCom” và hỏi H “có gì không”, H nói là “kiếm chổ gửi xe đang đi công chuyện dùm cho hia B”, Hi hỏi “công chuyện gì”, H trả lời là “chở thằng em về Đầm Dơi cho hia B và rủ Hi đi cùng”, Hi kêu H ghé Mường Thanh, H nói với Hi là “đậu xe ở vòng xoay đợi”. Khoảng 05 phút sau thì Hi điều khiển xe mô tô biển số 69K1-115.15 chạy đến. Hi thấy H và Ng đang ngồi trên xe, H ngồi trước, Ng ngồi sau. Do nghĩ Ng làm gì có lỗi với B nên Hi không nói gì, xông đến tay tháo mũ bảo hiểm đang đội trên đầu đánh Ng trúng vào mũ bảo hiểm Ng đang đội trên đầu thì H can ngăn, Hi dùng mũ bảo hiểm chọi Ng nhưng không trúng, Hi tiếp tục xông vào dùng tay nắm cổ áo đánh Ng, H tiếp tục can ngăn không cho Hi đánh Ng và nói với Hi “chuyện nhỏ để chở nó về Đầm Dơi cho hia B nói chuyện”. Trong lúc đánh Ng, Hi hỏi Ng “làm gì sai với Bảy B”. Do H không có giấy phép lái xe nên H gọi điện thoại cho B nói không có bằng lái, H hỏi ý kiến B kêu taxi chở Ng về Đầm Dơi cho B, B nói với H là sao cũng được. H hỏi Hi đem xe về nhà Hi gửi, Hi đồng ý nên H gọi điện thoại cho Lê Quốc Quân là tài xế taxi Đất Mũi chạy đến đường Châu Văn Liêm, khóm 5, phường 9, thành phố Cà Mau để chở H về Đầm Dơi. Cùng lúc này, Ng gọi điện thoại cho cha ruột Ng là Lâm Minh Hiệp ở ấp Tân Bình, xã Tân Đức, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau biết sự việc bị nhóm Đ bắt trên đường đưa về Đầm Dơi gặp B. Ông Hiệp gọi điện thoại cho cậu ruột của Ng là Lê Quốc Nam ở khóm 1, thị trấn Đầm Dơi, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau hay tin. Nam gọi điện thoại trình báo sự việc đến lực lượng Cảnh sát 113 Công an tỉnh Cà Mau.
Sau khi gọi taxi, H kêu Ng lên xe 69K3-3063 H chở, còn Hi đi một mình bằng xe mô tô biển số 69K1-115.15 đi về nhà Hi ở khóm 5, phường 9, thành phố Cà Mau. Lúc này, Nam gọi điện thoại cho Ng hỏi đang ở đâu, Ng nói là bị nhóm Đ bắt đang trên đường chở về Đầm Dơi, thì Nam mới kêu Ng là đi xe gì thì cho Nam biết biển số xe. Khi H, Hi đến ngã tư đường Châu Văn Liêm đường vô nhà Hi, H đậu xe đợi còn Hi chạy xe về nhà Hi và đi bộ ra chổ H và Ng để lấy xe của H chạy vô nhà Hi. Xe taxi đến, H mở cửa sau bên phụ kêu Ng lên xe ngồi. H lên ngồi chung với Ng, còn Hi mở cửa trước bên phụ lên xe ngồi ngang với tài xế. Trên xe, Ng nhắn tin biển số xe đang đi cho Nam, thấy Ng sử dụng điện Thoại, H kêu Ng tắt nguồn điện thoại. Sau khi biết số xe Ng nhắn tin, Nam báo cho Cảnh sát 113 Công an tỉnh Cà Mau biết. H và Hi chở Ng đến xã Tân Trung, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau thì lực lượng Cảnh sát 113 Công an tỉnh Cà Mau đuổi kịp bắt quả tang H, Hi có hành vi bắt, giữ người trái pháp luật và đưa về cơ quan làm việc.
Quá trình điều tra, Lâm Văn B chưa thành khẩn khai báo, Trương Hoàng Đ, Ng Hoàng H, Lương Quốc Hi thành khẩn khai báo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Ngoài ra, Hi, Đ phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị can Đ ra đầu thú, cha ruột bị can B được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì, bà nội bị can Đ được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì và cha ruột của bị can Hi được Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam, Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau, Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh Cà Mau tặng Bằng khen. Đối với hành vi phạm tội của các bị cáo chưa có hậu quả nghiêm trọng xảy ra, chưa đến mức nguy hiểm và được ngăn chặn kịp thời.
Về xử lý vật chứng:
+ Đối với 01 xe ô tô biển số 69A-043.77, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 008065 biển số đăng ký 69A-043.77 và 01 giấy phép lái xe hạng A1, C số 96009200123 tên Lê Quốc Quân không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau đã trả cho Quân.
+ Đối với 01 xe mô tô biển số 69K3-3063 Ng Hoàng H chở Ng. Qua điều tra, xe này của Lê Hoàng Suôl anh rễ của H. H dùng xe trên thực hiện hành vi phạm tội, Suôl không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau đã trả lại cho Suôl.
+ Đối với 01 xe mô tô biển số 69K1-115.15, Lương Quốc Hi điều khiển gặp H và Ng. Qua điều tra xác định xe này của Lâm Trung Hi. Lương Quốc Hi dùng xe trên thực hiện hành vi phạm tội, Lâm Trung Hi không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau đã trả lại cho Lâm Trung Hi.
+ Đối với 01 giấy chứng minh nhân dân tên Trương Hoàng Đ không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau đã trả lại cho Đ.
+ Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus của Lâm Chí N, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau đã trả lại cho Ng.
+ Hiện vật chứng còn lại trong vụ án là 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng đã qua sử dụng của của Trương Hoàng Đ, 01 điện thoại di động Iphone 4S màu đen và 01 điện thoại di động K-Touch màu đen đã qua sử dụng của Ng Hoàng H, 01 điện thoại di động OPPO A7 màu xanh đậm đã qua sử dụng của Lương Quốc Hi, 01 cái áo thun màu xanh trước ngực bên trái có logo dòng chữ “Trung tâm đào tạo và sát hạch lái xe Thăng Long” của bị hại, 01 mũ bảo hiểm màu đỏ-đen, trên mũ phía trước có logo dòng chữ “HONDA”, phía sau có dòng chữ “Xe máy Đức Khung”, 02 mũ bảo hiểm, dạng nón kết màu đen của Huỳnh Thanh Tuyền (Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau đang quản lý).
Tại bản cáo trạng số 185/CT-VKS ngày 12 tháng 9 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau truy tố Lâm Văn B, Trương Hoàng Đ, Ng Hoàng H và Lương Quốc Hi về tội "Bắt, giữ người trái pháp luật" theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau giữ nguyên cáo trạng truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lâm Văn B từ 15 tháng đến 18 tháng tù; Áp dụng khoản 1 Điều 157, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trương Hoàng Đ từ 12 tháng đến 15 tháng tù; Áp dụng khoản 1 Điều 157, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng H từ 09 tháng đến 12 tháng tù; Áp dụng khoản 1 Điều 157, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lương Quốc Hi từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng, 01 điện thoại di động Iphone 4S màu đen, 01 điện thoại di động K-Touch màu đen và 01 điện thoại di động OPPO A7 màu xanh đậm. Tịch thu tiêu hủy 01 cái áo thun màu xanh trước ngực bên trái có logo dòng chữ “Trung tâm đào tạo và sát hạch lái xe Thăng Long”, 01 mũ bảo hiểm màu đỏ-đen, trên mũ phía trước có logo dòng chữ “HONDA”, phía sau có dòng chữ “Xe máy Đức Khung”, 02 mũ bảo hiểm, dạng nón kết màu đen.
Quá trình điều tra, gia đình bị cáo B có yêu cầu Luật sư Ngô Đình Chiến tham gia tố tụng để bào chữa cho bị cáo. Tuy nhiên, tại phiên tòa Luật sư Chiến vắng mặt, bị cáo tự bào chữa và từ chối Luật sư Chiến bào chữa cho bị cáo.
Bị cáo B, H, Đ không có ý kiến tranh luận.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Hi tranh luận: Thống nhất với tội danh của Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo Hi vai trò đồng phạm thứ yếu. Bị cáo H là người rủ bị cáo Hi đi cùng. Bị cáo Hi nghĩ bị hại có làm lỗi gì đối với bị cáo B nên đánh bị hại, không có ý định gây áp lực cho bị hại. Bản thân bị cáo Hi có con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo Hi là cao nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức án bằng thời gian bị cáo bị tạm giam đủ giáo dục bị cáo.
Bị cáo Hi thống nhất ý kiến của Luật sư nên không có tham gia tranh luận.
Bị hại có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt và có đơn bãi nại cho các bị cáo.
Bị cáo B không nói lời sau cùng.
Các bị cáo H, Đ, Hi nói lời sau cùng: Các bị cáo ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, Luật sư bào chữa cho các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc kHi nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản thực nghiệm điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Xuất phát từ việc Lâm Chí N vay tiền và nợ của Trương Hoàng Đ nên Đ nhiều lần liên hệ với Ng đòi tiền nhưng Ng không trả. Đ nhiều lần nhờ Lâm Văn B gọi điện thoại cho Ng đòi tiền nhưng Ng vẫn không trả. Khoảng 17 giờ ngày 19/5/2019, Lâm Văn B, Trương Hoàng Đ, Ng Hoàng H, Lương Quốc Hi đã có hành vi bắt, giữ Lâm Chí N từ thành phố Cà Mau về Đầm Dơi cho Lâm Văn B để buộc Ng trả tiền cho Đ. Trên đường đi taxi về đến xã Tân Trung, huyện Đầm Dơi thì bị Cảnh sát 113 Công an tỉnh Cà Mau chặn đường bắt quả tang. Quá trình điều tra bị cáo B chưa thành khẩn khai báo. Tại phiên tòa, bị cáo B cũng như các bị cáo Đ, H và Hi đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Do đó các bị cáo Lâm Văn B, Trương Hoàng Đ, Ng Hoàng H, Lương Quốc Hi phạm tội "Bắt, giữ người trái pháp luật" theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.1] Hành vi phạm tội của các bị cáo B, Đ, H và Hi đã xâm phạm đến quyền tự do thân thể, quyền tự do đi lại của bị hại Lâm Chí N trái pháp luật. Đây là quyền được nhà nước và pháp luật bảo vệ cho mỗi công dân. Các bị cáo không có thẩm quyền bắt giữ người khác nhưng vẫn thực hiện gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi bắt, giữ người khác là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vì nhất thời, tHi suy nghĩ nên các bị cáo đã vấn thân vào con đường phạm tội. Vì vậy, các bị cáo pH chịu hình phạt của pháp luật. Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội trong trường hợp giản đơn, không có sự phân công nhiệm vụ, bàn bạc với nhau trước. Bị cáo B là người khởi xướng, trực tiếp điện thoại cho các bị cáo H và Đ thực hiện hành vi phạm tội nên mức hình phạt của bị cáo B cao hơn các bị cáo khác. Bị cáo Đ với vai trò đồng phạm trực tiếp nhờ bị cáo B đòi tiền của bị hại, cũng là nguyên nhân chính dẫn đến bắt giữ bị hại chở về Đầm Dơi cho B mục đích để bị hại trả tiền cho Đ. Bị cáo H đồng phạm làm theo yêu cầu của B và trực tiếp bắt giữ bị hại trên xe chở về Đầm Dơi. Bị cáo Hi cũng là đồng phạm, có hành vi dùng nón bảo hiểm đánh bị hại và tham gia đi cùng với H chở bị hại về Đầm Dơi. Tuy nhiên, vai trò đồng phạm của bị cáo Hi là thứ yếu nên mức hình phạt của bị cáo Hi thấp hơn các bị cáo khác trong cùng vụ án.
[2.2] Ngoài ra, bị cáo B có 02 lần bị xử phạt tù giam và 03 lần bị xử phạt vi phạm hành chính, bị cáo H có 01 lần bị xử phạt tù giam, tuy các bị cáo đã được xóa án tích và được xóa tiền sự nhưng xét về nhân thân của hai bị cáo là không tốt.
[2.3] Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo là có phần nghiêm khắc. Mặc dù các bị cáo có hành vi bắt, giữ bị hại là trái pháp luật nhưng chưa có hậu quả nghiêm trọng xảy ra, chưa đến mức nguy hiểm đến bị hại. Vậy, Hội đồng xét xử có xem xét khi áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, vai trò đồng phạm cũng như nhân thân của từng bị cáo.
[3] Về tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị hại có đơn bãi nại cho các bị cáo. Gia đình các bị cáo B, Đ và Hi có tham gia cách mạng (Cha ruột bị cáo B là Lâm Văn Suôl được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì, chú ruột bị cáo B là Lâm Văn Lén là liệt sĩ. Bà nội của bị cáo Đ là Đồng Thị Khối được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì và ông nội của Đ là Trương Văn Mến là Hội viên, Hội cựu chiến binh xã Tân Đức, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau. Cha ruột của bị cáo Hi là Lương Duy Hùng được Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau, Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh Cà Mau tặng Bằng khen. Ngoài ra, các bị cáo Hi và Đ phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Riêng bị cáo Đ có đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo B; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo H; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Hi và Đ. Đối với bị cáo Hi vai trò đồng phạm thứ yếu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo, cũng như đề nghị của Luật sư là phù hợp. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Điều tra thu giữ 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng đã qua sử dụng của Trương Hoàng Đ, 01 điện thoại di động Iphone 4S màu đen và 01 điện thoại di động K-Touch màu đen đã qua sử dụng của Ng Hoàng H, 01 điện thoại di động OPPO A7 màu xanh đậm đã qua sử dụng của Lương Quốc Hi. Những điện thoại này các bị cáo dùng để liên lạc với nhau để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung vào công quỹ nhà nước. Đối với 01 cái áo thun màu xanh trước ngực bên trái có logo dòng chữ “Trung tâm đào tạo và sát hạch lái xe Thăng Long”, 01 mũ bảo hiểm màu đỏ-đen, trên mũ phía trước có logo dòng chữ “HONDA”, phía sau có dòng chữ “Xe máy Đức Khung”, 02 mũ bảo hiểm, dạng nón kết màu đen không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. (Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/9/2019).
[5] Đối với Ng Chí Th và Ng Tấn Phát đi cùng với Trương Hoàng Đ và Ng Hoàng H nhưng không biết việc Đ và H bắt, giữ bị hại. Vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau không xử lý đối với Th và Phát là phù hợp.
[6] Đối với hành vi cho vay nặng lãi của Trương Hoàng Đ nhưng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên không đề cập xử lý trong vụ án này.
[7] Về án phí: Các bị cáo Lâm Văn B, Trương Hoàng Đ, Ng Hoàng H và Lương Quốc Hi, mỗi bị cáo pH chịu 200.000 đồng.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Lâm Văn B, Trương Hoàng Đ, Nguyễn Hoàng H và Lương Quốc Hi phạm tội "Bắt, giữ người trái pháp luật".
Áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo Lâm Văn B 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 20/5/2019.
Áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo Trƣơng Hoàng Đ 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 20/5/2019.
Áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 20/5/2019.
Áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự; Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt bị cáo Lƣơng Quốc Hi 04 (bốn) tháng 27 (hai mƣơi bảy) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 20/5/2019. Thời hạn phạt tù bằng thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt.
Tuyên trả tự do ngay cho bị cáo Lương Quốc Hi tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng đã qua sử dụng, 01 điện thoại di động Iphone 4S màu đen và 01 điện thoại di động K-Touch màu đen đã qua sử dụng, 01 điện thoại di động OPPO A7 màu xanh đậm đã qua sử dụng.
Tịch thu tiêu hủy 01 cái áo thun màu xanh trước ngực bên trái có logo dòng chữ “Trung tâm đào tạo và sát hạch lái xe Thăng Long”, 01 mũ bảo hiểm màu đỏ-đen, trên mũ phía trước có logo dòng chữ “HONDA”, phía sau có dòng chữ “Xe máy Đức Khung”, 02 mũ bảo hiểm, dạng nón kết màu đen.
(Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/9/2019).
4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo Lâm Văn B, Trương Hoàng Đ, Ng Hoàng H và Lương Quốc Hi, mỗi bị cáo pH chịu 200.000 đồng (chưa nộp).
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Phòng KT-NV và THA TAND tỉnh Cà Mau (Gửi email); - VKSND tỉnh Cà Mau (01b) - Sở Tư pháp tỉnh Cà Mau (01b) - VKSND thành phố Cà Mau (1b); - CAND thành phố Cà Mau (3b); - THADS thành phố Cà Mau (1b); - Người bào chữa - các bị cáo, bị hại, - Lưu. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Thái Hoàng Đắc |