vanban.org

Bản án 190/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Huế, TP. Huế Tuyên án 24/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Anh T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HUẾ
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 190 /2018/HSST
Ngày: 24/10/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huế.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vỵ và bà Trần Bích Thuỷ.

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Nữ Như Quỳnh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Minh, Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (60 Nguyễn Huệ, Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 182/2018/HSST ngày 10 tháng 9 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 217/2018/QĐXXST-HS ngày 08/10/2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Anh T, tên gọi khác: T Ruồi; sinh ngày 07/9/1985 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: Số nhà 19/199 đường D, phường A, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; Con ông Nguyễn Văn H (chết) và bà Trần Thị T A, sinh năm 1954; vợ: Nguyễn Thị Bảo V (sống ly thân); con: Có 2 con; lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2014;

Quá trình nhân thân: Lúc nhỏ sống với bố mẹ, đi học đến lớp 10/12 thì nghỉ học ở nhà, sau đó lập gia đình, làm công nhân đường sắt cho đến ngày gây án. Ngày 15/3/2005, bị Toà án nhân dân thành phố Huế xử phạt 18 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Bị hại: Anh Lê Quang T, sinh năm 1999; Nơi cư trú: Tổ 16, phường T, thị xã Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Lê Đình T; sinh năm 1999; nơi cư trú: 18/37 đường P, phường T, thị xã Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

Anh Lê Hoài C; sinh năm 1999; nơi cư trú:13/187 đường P, phường A, thành phố Huế, vắng mặt.

Anh Hà Minh T; sinh năm 1999; nơi cư trú: 3/3/137 đường P, phường A, thành phố Huế, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 17/6/2018, anh Lê Đình T1 cùng anh Lê Quang T2 đến nhà Nguyễn Anh Tở số 19/199 đường D, phường A, thành phố Huế để chơi. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, anh Lê Đình T1 mệt nên đi ngủ, giao chiếc điện thoại di động hiệu OPPO F5 cho anh T2 mượn để chơi game. Đến khoảng 15giờ 30 cùng ngày, T nói với anh T2 cho mượn điện thoại để T chụp hình tivi của nhà mình với mục đích giới thiệu cho người khác thuê tivi, anh T2 đồng ý, giao chiếc điện thoại nói trên cho T mượn. Sau khi mượn điện thoại, T dùng để chụp hình chiếc tivi, rồi đi ra ngoài gọi điện thoại cho đối tượng Hà Minh T3, nhờ T hỏi giúp có chỗ nào cầm tivi không, thì T3 trả lời không có chỗ nào nhận cầm. Sau đó T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại di động vừa mượn của anh Lê Quang T2, nên không trả lại điện thoại mà đưa đến gặp T3 để nhờ mang đi cầm cố. Khi gặp T3, Thiện giả vờ nói điện thoại này là của mình. T3 tưởng thật nên đồng ý đưa chiếc điện thoại đã nêu trên đến cầm cho anh Lê Hoài C được 2.500.000 đồng. Toàn bộ số tiền này, anh T3 mang về giao hết cho T. T đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Vật chứng thu giữ: 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO F5 màu vàng, số Imel: 867816031779011; 01 hợp đồng cầm cố, ghi ngày 17/6/2018. Tại bản kết luận định giá tài sản số 292/KL-HĐĐG ngày 20/6/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Huế xác định: Tại thời điểm bị chiếm đoạt, chiếc điện thoại di động hiệu OPPO F5 màu vàng có trị giá 4.200.000 đồng.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại chiếc điện thoại di động hiệu OPPO F5 màu vàng cho chủ sở hữu. Anh Lê Đình T1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm.

Quá trình điều tra, bị cáo T đã tự nguyện bồi thường số tiền 2.500.000 đồng cho anh Lê Hoài C. Anh C không yêu cầu gì thêm.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số 182/CT-VKS ngày 10/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Anh T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự .

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175, điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng.

Về xử lý vật chứng: Do cơ quan điều tra đã trả lại cho trả lại chiếc điện thoại di động hiệu OPPO F5 màu vàng cho bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về phần trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, người có quyền lợi nghiã vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm bồi thường dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí : Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

Trong vụ án này, anh Hà Minh T3 là người đã giúp T đưa chiếc điện thoại đi cầm cố, anh Lê Hoài C là người đã nhận cầm cố chiếc điện thoại di động, nhưng anh T3 và anh C đều không biết đó là tài sản do T phạm tội mà có, nên không xem xét xử lý.

Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Huế, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi của Nguyễn Anh T lợi dụng sự tín nhiệm của anh Lê Quang T2, sau khi mượn điện thoại di động hiệu OPPO F5 của anh T2 có giá trị 4.200.000đồng, rồi đem cầm cố, nhằm mục đích chiếm đoạt, đã cấu thành “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Anh T là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, thành khẩn khai báo, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của bị cáo mặc dù nhằm mục đích hưởng lợi bất chính, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, nhưng chỉ mang tính bột phát, nhất thời. Nhận thấy, mặc dù bị cáo đã từng bị kết án vào năm 2005 tuy nhiên đã được xóa án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi làm việc ổn định tại Trạm khám chữa toa xe Huế (thuộc Công ty cổ phần vận tải đường sắt Hà Nội - chi nhánh Toa xe Vinh), có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội. Như vậy, có đầy đủ các điều kiện cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo theo hướng dẫn tại Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, không cần thiết phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù, cần áp dụng điều 65 của Bộ luật hình sự, để cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Đồng thời giao bị cáo cho Trạm khám chữa toa xe Huế (thuộc Công ty cổ phần vận tải đường sắt Hà Nội - chi nhánh Toa xe Vinh), nơi bị cáo làm việc để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại di động cho chủ sở hữu anh Lê Đình T1 là đúng pháp luật, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, người có quyền lợi nghiã vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Anh T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Anh T cho Trạm khám chữa toa xe Huế, địa chỉ: 09 Bùi Thị Xuân, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế ( thuộc Công ty cổ phần vận tải đường sắt Hà Nội - chi nhánh Toa xe Vinh, địa chỉ: Số 7 đường Trần Bình Trọng, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An), để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Nguyễn Anh T thay đổi nơi làm việc thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Anh T cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Nguyễn Anh T phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Anh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ