- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn Tuấn - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐB | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 190/2018/HSST. Ngày: 16/8/2018. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐB TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Văn Lương.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lò Văn Hải;
2. Ông Lường Văn Hịa.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thúy Dần - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện ĐB.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐB, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Mai Thị Kim Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 16/8/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐB, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 187/2018/TLST-HS ngày 12/7/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 192/2018/QĐXXST-HS ngày 03/8/2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lường Văn T, tên gọi khác: Không, sinh năm: 1979, tại Điện Biên.
Trú tại: Đội 13, xã TA, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên.
Nơi ĐKHKTT: Đội 05, xã TX, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lường Văn S, sinh năm 1952 và bà: Quàng Thị X (đã chết); có vợ: Vì Thị Ph, sinh năm 1987 và 01 con, sinh năm 2009; Tiền án: Không; tiền sự: Không; Nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án đã được xóa án tích, không bị xử lý hành chính; bị bắt từ ngày 19/4/2018 "có mặt".
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 19/4/2018, bị cáo đi bộ từ nhà đến đội 18, xã TA, huyện ĐB với mục đích là mua ma túy về sử dụng. Bị cáo gặp và mua được 01 viên hồng phiến với giá 60.000đ của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên và địa chỉ. Bị cáo về nhà rồi cất giấu viên hồng phiến ở dưới chiếu chải giữa nhà. Hồi 13 giờ 00 phút cùng ngày, khi bị cáo đi đến lấy viên hồng phiến ra chuẩn bị sử dụng thì tổ công tác Công an huyện ĐB phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng là 01 hồng phiến.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng ngày 19/4/2018 đã xác định:
01 viên nén màu hồng thu giữ của bị cáo có khối lượng là 0,1 gam;
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản kết luận giám định số: 425/GĐ – PC54 ngày 28/4/2018, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận:
Mẫu viên nén màu hồng được trích từ vật chứng thu giữ của Lường Văn T gửi giám định là Methamphetamine;
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng giám định nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 133/CT-VKSHĐB ngày 11/7/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐB đã truy tố bị cáo Lường Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện ĐB vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS, điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Không đặt vấn đề xử lý vật chứng vụ án bởi vì 01 gam Methamphetamine đã gửi giám định toàn bộ và hoàn lại mẫu vật sau giám định.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Tôi biết hành vi của tôi là vi phạm pháp luật, tôi nhận tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Công an huyện ĐB, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐB, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội; đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bởi vì, ma túy là một hiểm họa của nhân loại, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác. Chính vì thế mà Nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi có liên quan đến ma túy. Nếu bị phát hiện Nhà nước sẽ xử lý nghiêm khắc theo quy định của pháp luật. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Nên cần phải xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.
Hành vi cất giấu 0,1 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng của bị cáo. Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐB đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo HĐXX thấy rằng: Do không có ý thức rèn luyện bản thân, bị cáo đã nghiện ma túy. Ngày 16/7/2013 bị cáo bị TAND huyện ĐB xử phạt 04 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", đã được xóa án tích. Ngày 23/5/2018 bị cáo phạm tội trong vụ án này và bị bắt cho đến nay.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân không tốt.
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.
Để cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian.
. Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS là phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có khả năng thi hành. Cho nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Còn đối với người đàn ông theo bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên và địa chỉ, nên CQĐT không xác minh làm rõ được.
. Vật chứng của vụ án là 0,1 gam Methamphetamine, gửi giám định toàn bộ(không hoàn lại mẫu vật sau khi giám định), nên không đặt vấn đề xử lý vật chứng.
. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS xử phạt bị cáo Lường Văn T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt ngày 19/4/2018.
3. Án phí: Áp dụng Điều 136/BLTTHS; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND T Điện Biên - VKSND H ĐB - VKS tỉnh. - CQĐTCA H ĐB - Phòng HNVCA T Điện Biên - Sở TP Điện Biên - THA HS tỉnh ĐB. - Nhà tạm giữ CAHĐB; - Chi cục THADSHĐB; - Bị cáo. - Lưu. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣờng Văn Lƣơng |