vanban.org

Bản án 19 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xö: Chị Vi Thu H ® îc ly h«n với anh Vũ Văn H.

Quan hệ hôn nhân giữa chị Vi Thu H và anh Vũ Văn H chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật Về nuôi con khi ly hôn: Giao cháu Vi Thục Uyên, sinh ngày 25/6/2014 cho chị Vi Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Uyên đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xö: Chị Vi Thu H ® îc ly h«n với anh Vũ Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN BÀN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÀO CAI
B¶n ¸n sè: 19/2025/ HNGĐ - ST
Ngµy 06 th¸ng 6 n¨m 2025.
Về việc: “ Ly h«n, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI

THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lựa

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hồ Trọng Trung.

2. Ông Hoàng Văn Thứ.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 76/2025/TLST- HNGĐ ngµy 24/4/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXX ST- HNGĐ ngày 22/5/2025, giữa:

Nguyên đơn: Chị Vi Thu H, sinh năm 1995. Địa chỉ: Bản ĐM, xã Ch H, huyện Q Ch, tỉnh NghA. Vắng mặt có lý do.

Bị đơn: Anh Vũ Văn H, sinh năm 1989. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Thị Tứ, xã V L, huyện VB, tỉnh LC. Hiện đang chấp Hnh án tại trại giam Ngọc Lý. Địa chỉ: Xã Ngọc Lý, huyện Tân Uyên, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, và tài liệu, chứng cứ kèm theo của chị Vi Thu H trình bày, có yêu cầu: Năm 2014, chị và anh Vũ Văn H tự nguyện chung sống với nhau theo phong tục tập quán. Đến ngày 29/6/2015 tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Châu Hạnh, huyện Quỳ Châu tỉnh Nghệ An. Vợ chồng hạnh phúc được khoảng 02 năm đến năm 2016 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống đã cho nhau cơ hội nhưng chị và anh H vẫn giữ nguyên phong cách sống, rồi điều qua tiếng lại, chửi mắng chị. Mâu thuẫn giữa chị và anh H đã bị rạn nứt, không có cách nào Hn gắn tình cảm, gay gắt vào cuối năm 2019 chị bỏ về Bản Đồng Minh, xã Châu Hạnh, huyện Quỳ Châu sống còn anh H vi phạm pháp luật bị xử phạt 05 năm 03 tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”, trong thời gian anh H bị tạm giữ, tạm giam và chấp Hnh án tại trại giam Ngọc Lý. Địa chỉ: Xã Ngọc Lý, huyện Tân Uyên, tỉnh Bắc Giang chị không thăm hỏi, bỏ mặc không còn quan tâm tính đến nay khoảng hơn 05 năm nên chị không có thai với anh H. Nay chị xác định, tình cảm vợ chồng không còn cách nào Hn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu không được Tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị, chị tiếp tục sống ly thân, nhất định không đoàn tụ vợ chồng với anh H. Chị đề nghị ® îc ly h«n víi anh Vũ Văn H.

Về con: Chị H xác định, có 01 con chung là cháu Vi Thục Uyên, sinh ngày 25/6/2014. Hiện cháu Uyên đang sống cùng chị. Nay chị đề nghị tiếp tục giao cháu Uyên cho chị trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con cùng chị đến khi đủ 18 tuổi.

Việc chị tự nguyện và anh H không tranh chấp nuôi 01 người con có tên trên từ khi ly thân, nay anh H đang chấp Hnh án. Chị đề nghị tiếp tục nhận nuôi dưỡng con để tránh sự sáo trộn trong cuộc sống, học tập.

Về tài sản: Chị H xác định, chị và anh H không có. Chị kh«ng ®Ò nghÞ Tßa gi¶i quyÕt.

Về vay nợ: Chị H xác định, chị và anh H kh«ng vay nî cơ quan, tổ chức, c¸ nh©n kho¶n nµo, kh«ng cho cơ quan, tổ chức, cá nhân vay nî vî chång. Chị kh«ng ®Ò nghÞ Tßa gi¶i quyÕt.

Tại lời khai của anh Vũ Văn H trình bày, có yêu cầu: Anh c«ng nhËn chị H tr×nh bµy vÒ thêi gian kÕt h«n, lý do mâu thuẫn vợ chồng, thêi gian sèng ly th©n phÇn trªn lµ ®óng. Tuy nhiên, giữa anh và chị H đã trao đổi để sửa chữa nhưng chị H không đồng ý mà đã bỏ nH đi từ năm 2019, anh vi phạm pháp luật bị xử phạt 05 năm 03 tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”, trong thời gian anh bị tạm giữ, tạm giam và chấp Hnh án đến nay chị bỏ mặc, không quan tâm và tự chấm dứt không quan hệ tình cảm vợ chồng tính đến nay khoảng hơn 05 năm.

Quá trình chung sống anh đã tìm mọi biện pháp để Hn gắn tình cảm với chị H nhưng không có kết quả, đến nay không còn cách nào để Hn gắn tình cảm vợ chồng nên anh nhất trí yêu cầu khởi kiện của chị H. Tuy nhiên, do anh đang chấp Hnh án, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nay, anh đề nghị ® îc ly h«n víi chị Vi Thu H.

Về con: Anh công nhận chị H trình bày phần trên là đúng. Anh đề nghị giao cháu Vi Thục Uyên, sinh ngày 25/6/2014 cho chị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Anh không cấp dưỡng nuôi con cùng chị H đến khi đủ 18 tuổi.

VÒ tµi s¶n: Anh vµ chị H không cã tµi s¶n chung. Anh kh«ng ®Ò nghÞ Tßa gi¶i quyÕt.

VÒ vay nî: Anh vµ chị H kh«ng nợ cơ quan, tổ chức, cá nhân kho¶n nµo, kh«ng cho ai vay nî vî chång. Anh kh«ng ®Ò nghÞ Tßa gi¶i quyÕt.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Vi Thu H và bị đơn anh Vũ Văn H đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên; căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về Tố tụng: Theo đơn khởi kiện và các chứng cứ kèm theo chị Vi Thu H yêu cầu “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Xét thấy, bị đơn anh Vũ Văn H cư trú tại thôn Thị Tứ, xã V L, huyện VB, tỉnh LC. Hiện đang chấp Hnh án tại trại giam Ngọc Lý. Địa chỉ: Xã Ngọc Lý, huyện Tân Uyên , tỉnh Bắc Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thu H xác định, Năm 2014, chị và anh Vũ Văn H tự nguyện chung sống với nhau theo phong tục tập quán. Đến ngày 29/6/2015 chị và anh Vũ Văn H tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Châu Hạnh, huyện Quỳ Châu. Vî chång hạnh phúc được khoảng 02 năm đến năm 2016 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, cả hai đều cho nhau cơ hội nhưng chị và anh H vẫn giữ nguyên phong cách sống, rồi điều qua tiếng lại, chửi mắng nhau làm cho tình cảm vợ chồng lâm vào tình trạng trầm trọng nhất vào cuối năm 2019, chị đã bỏ về nH cha mẹ đẻ sống còn anh H phải chấp Hnh án tại trại giam Ngọc Lý. Địa chỉ: Xã Ngọc Lý, huyện Tân Uyên, tỉnh Bắc Giang, chị bỏ mặc không quan tâm tính đến nay khoảng hơn 05 năm, thiếu sự chăm lo, yêu thương, chăm sóc, tôn trọng giúp đỡ nhau, người nào biết bổn phận người đó, bỏ mặc nhau trong cuộc sống nên quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng. Chị H yêu cầu đề nghị được ly hôn với anh H mà không được chấp nhận yêu cầu thì chị tiếp tục sống ly thân với anh H như hiện nay. Xét thấy, chị H thực sự không còn tình cảm vợ chồng với anh H. Trong thời gian sinh sống tại địa phương anh H đã tìm cách nhưng không nứu kéo được tình cảm với chị H nên từ khi thụ lý anh H đã ghi bản tự khai và có đơn xin xét xử vắng mặt đều ghi ý kiến quan điểm đề nghị giải quyết nhất trí ly hôn và giao con cho chị H khi ly hôn. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh H mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử cần áp dụng khoản 1 §iÒu 56 LuËt h«n nh©n vµ gia ®×nh chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thu H đề nghị được ly hôn với anh Vũ Văn H.

Về con: Chị H và anh H đều đề nghị Tòa giải quyết giao cháu Vi Thục Uyên, sinh ngày 25/6/2014 cho chị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục ®Õn khi 18 tuổi. Chị H không yêu cầu và anh H nhất trí không cấp dưỡng nuôi con cùng chị H cho đến khi đủ 18 tuổi. Do vậy, để đảm bảo việc học tập và phát triển về thể chất lẫn tinh thần và tránh sự xáo trộn trong cuộc sống của cháu Uyên, cần chấp nhận đề nghị của chị H và anh H giao cháu Uyên cho chị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục là phù hợp với nguyện vọng các đương sự và qui định tại Điều 81,Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình và phù hợp với nguyện vọng của chị H và anh H tự nguyện giao con của các đương sự khi ly thân.

Về tài sản chung, vay nợ: Các đương sự không có yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 §iÒu 56; khoản 1 Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 LuËt h«n nh©n vµ gia ®×nh. Khoản 4 §iÒu 147; Điều 227; Điều 228 Điều; 229 và Điều 238 Bé luËt tè tông d©n sù; điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xö: Chị Vi Thu H ® îc ly h«n với anh Vũ Văn H.

Quan hệ hôn nhân giữa chị Vi Thu H và anh Vũ Văn H chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật

2.Về nuôi con khi ly hôn: Giao cháu Vi Thục Uyên, sinh ngày 25/6/2014 cho chị Vi Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Uyên đủ 18 tuổi.

Về thực hiện nghÜa vô cÊp dưỡng nuôi con: Anh Vũ Văn H không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con cùng chị Vi Thu H cho đến khi cháu Uyên đủ 18 tuổi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm non con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các tHnh viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi

3. Về án phí: Chị Vi Thu H ph¶i chÞu 300.000đ ( ba tr¨m ngh×n ®ång) tiền ¸n phÝ Hôn nhận và gia đình s¬ thÈm. Nhưng được trõ vµo sè tiÒn t¹m øng ¸n phÝ d©n sù s¬ thÈm ®· nép lµ 300.000đ t¹i biªn lai thu tiÒn sè 0004259 ngày 24/4/2025 cña Chi côc thi hµnh ¸n d©n sù huyÖn V¨n Bµn, tØnh Lµo Cai.

Anh Vũ Văn H không ph¶i chÞu tiÒn ¸n phÝ cÊp d©n sù s¬ thÈm.

Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ. N¬i nhËn

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tØnh Lào Cai(1);

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TÒA

- VKSND huyện Văn Bàn(2);

- Nguyên đơn ( 01).

- Bị đơn ( 01).

- THA D©n sù huyện Văn Bàn(1);

- UBND xã Châu Hạnh, huyện Quỳ Châu( 1).

- L­u HS vụ án ( 02 ),

Đỗ Thị Lựa

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đỗ Thị Lựa N¬i nhËn

Cỡ chữ