- Tranh chấp gì? "nguyễn Phú Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phú Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án: 19/2020/HSST Ngày: 12 - 5- 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NG VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO,TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Sắc Ly
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Kiệt
Bà Phan Thị Đẹp
– Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Trúc Linh -Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Danh Nguyên – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2020/TLST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:16/2020/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Phú Q, sinh ngày XX tháng XX năm 1993, tại Tiền Giang; Nơi cư trú: Ấp H, xã T, huyện G, T; Chỗ ở hiện nay: Ấp H, xã T, huyện G, T ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 0/12; Con ông Nguyễn Trọng Ng, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1962; Anh, em ruột: 05 người, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; Vợ: Trần Thị Mỹ T, ngụ B (Đã ly hôn năm 2016); Con: 02 người con sinh năm 2011 và 2012; Tiền sự: Không. Tiền án: Ngày 27/11/2018 bị Tòa án nhân dân huyện C xử phạt 01 năm tù về hành vi trộm cắp tài sản theo bản án số 68/2018/HSST ngày 27/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện C; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 10/11/2019, đến ngày 16/11/2019 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phỗ M (Bị cáo có mặt).
Người có quyền, Ng vụ liên quan:
- Nguyễn Thụy Thanh T, sinh năm 1986 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Số H, đường G, phường B, thành phố M, tỉnh T.
Người chứng kiến:
- Phan Tuyết TH, sinh 1996 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Số H, khu phố B, phường M, thành phố M, tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ 10 phút ngày 10/11/2019, lực lượng Công an phường M, thành phố M kết hợp với lực lượng bảo vệ dân phòng tiến hành tuần tra trên địa bàn phường M, thành phố M. Khi đến tuyến đường L, khu phốM, phườngM, thành phố M thì phát hiện Nguyễn Phú Q, sinh năm 1993, ngụ ấp H, xã T, huyện G, tỉnh T đang điểu khiển xe mô tô biển số 63B5-00616 phía sau chở Nguyễn Thụy Thanh T, sinh năm 1986, ngụ số H, đường G, phường B, thành phố M có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Lúc này, Q điều khiển xe bỏ chạy đến khu vực chợ t, xã T thành phố M thì dừng xe. Qua kiểm tra phát hiện Q đang cất giữ 01 bịch nylon màu trắng chứa tinh thể màu trắng có vạch đỏ một đầu nghi là ma túy để trong túi quần Jean (túi nhỏ) phía trước bên phải của Q đang mặt trên người nên tiến hành lập biên bản thu giữ.
Vật chứng thu giữ trong vụ án:
- Một bịch nylon màu trắng, bên trên có gạch đỏ, bên trong chứa tinh thể màu trắng được cho vào phong bì niêm phong lại có điểm chỉ màu đỏ in dấu vân tay ngón trỏ phải, ngón trỏ trái của Nguyễn Phú Q; chữ ký ghi họ tên người chứng kiến là Phan Tuyết TH và dấu mộc đỏ của Công an phường M, thành phố M, tỉnh T, chữ ký ghi họ tên Nguyễn Thụy Thanh T;
- Một xe mô tô màu đỏ trắng biển số 63B5-00616;
- Một điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng vàng đồng có một sim viettel có dãy 8984 0480 0006 3527 462.
Kết luận giám định số 189 ngày 13/11/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng trong 01 gói nylon màu trắng được hàn kín có vạch đỏ một đầu, để trong một bì thư màu trắng được niêm phong có hình dấu vân tay màu đỏ ghi chữ “trỏ trái”, “trỏ phải” của Nguyễn Phú Q, các chữ ký ghi họ tên: Phan Thị Tuyết TH, Nguyễn Thụy Thanh T và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: CÔNG AN PHƯỜNG M – CÔNG AN THÀNH PHỐ M – TỈNH T; gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2449 gam loại Methamphetamine.
Mẫu ma túy còn lại sau giám định và các vật chứng có liên quan hiện cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Mỹ Tho đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho chờ xử lý.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 10/11/2019, bị cáo Q rủ T đi chơi thì T đồng ý. Trong lúc T để điện thoại sạc pin thì bị cáo Q lấy điện thoại của T gọi cho một người phụ nữ tên Ph (không rõ họ tên, địa chỉ) để mua ma túy và hẹn giao tại khu vực cống Bảo Định, phường 10, thành phố Mỹ Tho. Sau đó bị cáo Q rủ T đi mua đồ ăn thì T đồng ý, bị cáo Q điều khiển xe mô tô biển số 63B5-00616 chở T đến địa điểm trên để lấy ma túy của Ph với giá 250.000.000 đồng. Bị cáo để ma túy trong túi trong túi quần Jean (túi nhỏ) phía trước bên phải của Q đang mặc trên người rồi chở T trên đường L, Khu phố M, phườngM thì bị lực lượng Công an chặn dừng kiểm tra, bị cáo Q điều khiển xe bỏ chạy đến đường P, ấp M, xã T, thành phố M thì bị bắt qua tang cùng tang vật.
Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo Q, do Q khai không rõ họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không triệu tập làm việc được, hiện tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Thụy Thanh T do không biết Q lấy điện thoại của T gọi cho Ph để mua ma túy và T cũng không biết Q cất giữ trái phép chất ma túy trong người nên Cơ quan điều tra không khởi tố xử lý T về hành vi Tàn trữ trái phép chất ma túy là có căn cứ.
Xe mô tô biển số 63B5 – 006.16 do chị Trần Thanh H, sinh năm 1985, ngụ ấp Long Mỹ, xã Long Chánh, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang đứng tên sở hữu nhưng chị H đã bán cho người khác không rõ họ, tên địa chỉ; chị H không có làm thủ tục sang tên. Nay chị H không có yêu cầu gì đối với xe trên.
Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKS-HS ngày 21/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho đã truy tố Nguyễn Phú Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng, không tranh luận. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sửa chữa sai lầm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho thực hiện quyền
công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, phân tích các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1, Điều 249 và Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Phú Q từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định là các mẫu tinh thể màu trắng ký có khối lượng 0.2117 gam được niêm phong trong bì thư ký vụ số 189. Tuyên trả lại cho chị Nguyễn Thụy Thanh T Một xe mô tô màu đỏ trắng biển số 63B5-006.16; Một điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng vàng đồng có một sim viettel có dãy 8984 0480 0006 3527 462.
Lời tự bào chữa của bị cáo Nguyễn Phú Q: Bị cáo xin Hội đồng xét xử
giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra thành phố Mỹ Tho, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại hay có ý kiến gì về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận về hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi Ng vụ liên quan, người chứng kiến, biên bản khám nghiệm hiện T, vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận, khoảng 05 giờ 10 phút ngày 10/11/2019, lực lượng Công an phường 10, thành phố Mỹ Tho kết hợp với lực lượng bảo vệ dân phòng tiến hành tuần tra trên địa bàn phường 10, thành phố Mỹ Tho kiểm tram bắt quả tang Nguyễn Phú Q đang tàng trữ trái phép 0.2449 gam ma túy loại Methamphetamine nên bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất gây nghiện mà còn gây mất trật trự trị an tại địa phương nơi bị cáo thực hiện tội phạm, gây ảnh hưởng xấu đến cuộc sống người dân. Vì vậy, cần xử lý bị cáo mức án thật nghiêm khắc để tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt sống có ích cho xã hội đồng thời đấu tranh phòng ngừa loại tội phạm này trong tình hình hiện nay.
Bị cáo có nhân thân xấu, theo bản án số 68/2018/HSST ngày
27/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, xử phạt bị cáo 01 năm tù về hành vi “trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích. Do đó, lần phạm tội này của bị cáo thuộc T hợp tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hhình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, do đó cần có mức hình phạt tương xứng với mức độ phạm tội, mới đảm bảo được công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và có tác dụng răn đe đối với bị cáo.
Tuy nhiên, tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra bị cáo Nguyễn
Phú Q, tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trong khi quyết định hình phạt đối với bị cáo;
Vật chứng vụ án:
Cần tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định trong 01 (một) bì
thư được niêm phong có ký hiệu vụ số 189 ngày 13/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang, có chữ ký in họ tên bên giao của giám định viên Nguyễn Thanh T, trợ lý giám định Huỳnh Thị Diệu Hương, bên nhận Trần Thanh Dũng và hình dấu tròn màu đỏ in chữ: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; Do không biết bị cáo lấy điện thoại của T gọi cho Ph để mua ma túy và T cũng không biết bị cáo lấy xe của T để đi mua ma túy nên cần xem xét trả lại cho chủ sở hữu các tài sản là vật chứng trong vụ án. Cụ thể, xem xét trả lại cho chị Nguyễn Thụy Thanh T 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu trắng vàng đồng, có sim Viettel có dãy số ghi 8984 0480 0006 3527 462, máy không lên nguồn, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong. Đối với xe mô tô biển số 63B5-006.16 phía chị T cho rằng xe mô tô là tài sản của chị. Căn cứ vào phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ thì chủ xe Trần Thanh H đứng tên, theo biên bản ghi lời khai ngày 11/12/2019 thì phía chị H cho rằng vào năm 2011 có mua và đăng ký xe mô tô biển số 63B5 – 006.16 . Nhưng khoảng 03 năm sau do không có nhu cầu sử dụng nên đã bán cho người khác không rõ họ tên địa chỉ, nay chị không tranh chấp về chiếc xe. Phía bị cáo cũng không tranh chấp và cho rằng xe mô tô trên là tài sản của chị T. Do đó, cần tuyên trả lại cho chị T xe mô tô biển số 63B5-006.16, không kính chiếu hậu, xe không nổ máy, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong.
Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật, tuy nhiên việc đề nghị áp dụng hình phạt là có phần nặng so với mức độ phạm tội của bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần đề nghị của Kiểm sát viên.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phú Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phú Q 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 10/11/2019.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định trong 01 (một) bì thư
được niêm phong có ký hiệu vụ số 189 ngày 13/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang, có chữ ký in họ tên bên giao của giám định viên Nguyễn Thanh T, trợ lý giám định Huỳnh Thị Diệu H, bên nhận Trần Thanh Dũng và hình dấu tròn màu đỏ in chữ: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG
Tuyên trả lại cho chị Nguyễn Thụy Thanh T Một xe mô tô màu đỏ trắng, có gắn biển số 63B5-006.16, không kính chiếu hậu, xe không nổ máy, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong;
Một điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng vàng đồng, có sim viettel có dãy 8984 0480 0006 3527 462.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/01/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Bị cáo Nguyễn Phú Q phải chịu là 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo Nguyễn Phú Q, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi Ng vụ liên quan Nguyễn Thụy Thanh T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo qui định pháp luật.
T hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh TG; - VKSND Tỉnh,thành phố Mỹ Tho; - Chi cục THA DS; - Trại giam; - Bị cáo, người tham gia tố tụng; - Lưu. | Phạm Thị Sắc Ly |