- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
- Tòa quyết gì? Về tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận lời khai của bà T không có tài sản chung và nợ chung.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2021/HNGĐ-ST Ngày: 29/6/2021 Về việc ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đặng Thị Hoàng
2. Ông Nguyễn Văn Cảnh
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thụy Bích Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm C khai vụ án thụ lý số 22/2021/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 02 năm 2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 62/2021/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị T, sinh năm: 1986.
Địa chỉ: Ấp 4, xã T, huyện G, tỉnh T. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn:
Ông Nguyễn Chí C, sinh năm: 1982.
Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện C, Thành phố H. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 01 năm 2021, bản tự khai ngày 11 tháng 3 năm 2021 và các biên bản về việc không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn bà Huỳnh Thị T trình bày:
Bà và ông Nguyễn Chí C tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2009, đến năm 2010 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lý Nhơn, huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận kết hôn số 44, quyển số 01/2010 ngày 29/9/2010. Bà T làm dâu nhà chồng, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm nhau trong cuộc sống, mâu thuẫn về tiền bạc, về chung lo con chung, vợ chồng không thể chia sẻ nhau, ông C thường xuyên nhậu nhẹt, bỏ bê không cùng bà chung lo cuộc sống gia đình, bà T nhiều lần khuyên nhưng ông C không sửa đổi, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt và đã ly thân nhau từ năm 2016, bà T đưa 02 con về nhà mẹ ruột tại Ấp 4, xã T, huyện G, tỉnh T sinh sống cho đến nay. Từ khi ly thân đến nay, ông C không có biểu hiện thái độ hoặc liên lạc để hàn gắn vợ chồng, không hề quan tâm con cái, bà nhận thấy cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc và tình cảm ngày càng lạnh nhạt không thể hàn gắn lại được. Vì vậy bà yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Chí C. Về con chung: Có 02 con chung là cháu Nguyễn Huỳnh T, sinh ngày: 24/10/2010 và cháu Nguyễn Ngọc V, sinh ngày: 15/11/2015. Nếu được Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông C, bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi 02 con cho đến khi các con lần lượt trưởng thành đủ 18 tuổi; không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Bà T trình bày không có. Đối với bị đơn ông Nguyễn Chí C đã được Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ tống đạt, niêm yết thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, C khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng ông C không có ý kiến, đồng thời vắng mặt trong tất cả các lần Tòa án triệu tập không có lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 và 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Quan điểm giải quyết vụ án: Xét yêu cầu ly hôn và nuôi con của bà Huỳnh Thị T là chính đáng. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Huỳnh Thị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn bà Huỳnh Thị T có đơn xin ly hôn với ông Nguyễn Chí C, sinh năm: 1982, có hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã L, huyện C, Thành phố H. Quan hệ tranh chấp này là tranh chấp ly hôn nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tư cách tham gia tố tụng của các đương sự:
Căn cứ vào Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì:
Bà Huỳnh Thị T tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn.
Ông Nguyễn Chí C tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn.
Xét thấy bị đơn vắng mă ̣t lần thứ hai ta ̣i phiên tòa không có lý do, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mă ̣t đương sự là phù hợp.
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị T và ông Nguyễn Chí C tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân với nhau, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lý Nhơn, huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận kết hôn số 44, quyển số 01/2010 ngày 29/9/2010. Như vậy hôn nhân giữa bà T và ông C được pháp luật C nhận. Nguyên nhân bà T nộp đơn xin ly hôn ông C là do vợ chồng bất đồng quan điểm nhau trong cuộc sống, mâu thuẫn về tiền bạc, về chung lo con chung vợ chồng không thể chia sẻ nhau, ông C thường xuyên nhậu nhẹt, bỏ bê không cùng bà chung lo cuộc sống gia đình, bà T nhiều lần khuyên nhưng ông C không sửa đổi, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt và đã ly thân nhau từ năm 2016, bà T đưa 02 con về mẹ ruột tại Ấp 4, xã T, huyện G, tỉnh T sinh sống cho đến nay. Từ khi ly thân đến nay, ông C không có biểu hiện thái độ hoặc liên lạc để hàn gắn vợ chồng, không hề quan tâm con cái, bà T nhận thấy cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc và tình cảm ngày càng lạnh nhạt không thể hàn gắn lại được. Vì vậy, bà Huỳnh Thị T yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết cho bà T được ly hôn với ông Nguyễn Chí C. Xét thấy: Khi đã là vợ chồng thì cả hai phải cùng có nghĩa vụ chung sống với nhau, thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các C việc trong gia đình và chung lo cuộc sống nuôi dạy con cái. Nhưng ông C không quan tâm đến vợ con, không thể hiện trách nhiệm làm chồng, làm cha bỏ mặc bà T một mình phải nuôi 02 con. Tòa án cũng đã nhiều lần triệu tập ông C để tham gia hòa giải nhưng ông C đều vắng mặt không có lý do, thể hiện thái độ bỏ mặc và không có thiện chí hay biện pháp gì nhằm xây dựng gia đình hạnh phúc. Điều này chứng tỏ rằng mâu thuẫn chung vợ chồng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
- Về quan hệ con chung: Bà T và ông C có 02 con chung là cháu Nguyễn Huỳnh T, sinh ngày: 24/10/2010 và cháu Nguyễn Ngọc V, sinh ngày: 15/11/2015. Qua ghi nhận ý kiến bà T có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con cho đến khi các con lần lượt trưởng thành đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con. Đồng thời cháu V có nguyện vọng sống với bà T. Xét yêu cầu của bà T là chính đáng nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà T trực tiếp nuôi 02 con cho đến khi các con lần lượt trưởng thành đủ 18 tuổi.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà T trình bày không có nên không xem xét giải quyết. Từ nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bà T là có căn cứ, lời đề nghị của Viện kiểm sát được chấp nhận. [4] Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Do bà Huỳnh Thị T là người nộp đơn xin ly hôn nên bà phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 71, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật Thi hành án dân sự. Tuyên xử: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Chí C. 2. Về quan hệ con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Huỳnh T, sinh ngày: 24/10/2010 và cháu Nguyễn Ngọc V, sinh ngày: 15/11/2015 cho bà Huỳnh Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu lần lượt trưởng thành đủ 18 tuổi. 3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Nguyễn Chí C có quyền thăm nom, chăm sóc con chung. Vì quyền lợi của con chung, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận lời khai của bà T không có tài sản chung và nợ chung.
5. Về án phí: Bà Huỳnh Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AG/2011/07289 ngày 01 tháng 02 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ. Bà Huỳnh Thị T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
7. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án: Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Cần Giờ; - Chi cục THADS huyện Cần Giờ; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trọng Phúc |