vanban.org

Bản án 19/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đông T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đông T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đông T - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đông T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7-KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2026/HS-ST
Ngày 20-5-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Quảng Thị Đức Tâm

Ông Nguyễn Ngọc Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Minh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2026, tại Tòa án nhân dân khu vực 7 - Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 14/2026/TLST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2026/QĐXXST-HS ngày 06-5-2026 đối với bị cáo:

NGUYỄN ĐÔNG T, sinh năm 1997 tại Khánh Hòa.

Quê quán: Hưng Yên. Nơi đăng ký NKTT: Thôn C, xã N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thế T1 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1953; Chưa có vợ, con.

- Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Phạm Thị Anh Đ, sinh năm 1967 (Đã chết)

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Võ Khôi N, sinh năm: 1962 là chồng của bị hại; Địa chỉ: Thôn A, xã N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị Vi Huỳnh N1, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số E đường V, phường B, thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bà Võ Thị Huỳnh N2, sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn A, xã N, tỉnh Khánh (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Thanh T3, sinh năm 1998. Địa chỉ: Thôn A, xã N, tỉnh Khánh Hòa (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 22-10-2025, sau khi đã nhậu xong tại thôn T, xã L, tỉnh Khánh Hòa, Nguyễn Đông T trong người có nồng độ cồn là 0,191 mg/lít khí thở vẫn điều khiển xe mô tô biển số 85F1-344.80 đi về nhà mình tại Thôn C, xã N, tỉnh Khánh Hòa. Đến khoảng 21 giờ 57 phút, khi đến Km 236+1.013,2m Quốc lộ B thuộc thôn A, xã N, tỉnh Khánh Hòa, T quay đầu nhìn về phía sau để quan sát xem có phương tiện phía sau không, khi quay đầu lại thì phát hiện bà Phạm Thị Anh Đ (Sinh năm 1967, trú Thôn A, xã N, tỉnh Khánh Hòa) đang đi bộ cách đầu xe khoảng 01 m, do khoảng cách quá gần nên T không kịp xử lý đã tung vào bà Đ ngã xuống đường nằm bất tỉnh, bà Đ được người dân đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế N3, sau đó chuyển điều trị tại Bệnh viện Đ1, tỉnh Khánh Hòa. Do thương tích nặng nên ngày 23-10-2025 bà Đ đã tử vong (BL: 122-135, 138-147).

Tại Kết luận giám định tử thi qua hồ sơ số 05.115/25/KLTTHS-PYKH ngày 27/11/2025 của Trung tâm P1, kết luận:“Qua nghiên cứu hồ sơ bệnh án Phạm Thị Anh Đ, sinh năm 1967, trú Thôn A, xã N, tỉnh Khánh Hòa, chúng tôi kết luận nạn nhân chết do vỡ xương hộp sọ - chấn thương nội sọ kèm theo đa chấn thương nặng” (BL: 150-151).

Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Đông T đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt.

Về thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Yamaha, số loại Exciter, màu xanh, biển số 85F1-344.80 số khung RLCUG1010LY249304, số máy G3D4E1020336 chủ sở hữu là Nguyễn Đông T; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô số 027282, biển số 85F1-344.80, tên chủ xe Nguyễn Đông T; 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số 580186001157 do Sở Giao thông vận tải tỉnh N (nay là Sở Xây dựng tỉnh K) cấp ngày 26-4-2018 cho Nguyễn Đông T nên trả lại cho T là đúng quy định pháp luật.

- 01 đĩa DVD, bỏ vào túi niêm phong mã số NS2: 23004749 (có chữ ký của Trần Nguyễn An K và La Hải P) lưu giữ 01 đoạn file có tên “7145576503048” định dạng mp4 video file, dung lượng 8,05MB, thời gian từ 21:57:06 đền B:57:37, ghi lại vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra ngày 22/10/2025 tại Km 236+1.013,2m Quốc lộ B thuộc Thôn A, xã N, tỉnh Khánh Hòa. Đây là vật chứng điện tử được thu giữ theo quy định nên lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án là có căn cứ.

Về dân sự: Gia đình bị hại Phạm Thị Anh Đ yêu cầu bồi thường số tiền là 200.000.000 đồng, Nguyễn Đông T đồng ý và đã bồi thường 200.000.000 đồng. Gia đình bị hại đã viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận diễn biến sự việc xảy ra như nội dung cáo trạng đã truy tố.

Bản Cáo trạng số 20/CT-VKS-NS, ngày 13 tháng 3 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Khánh Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Đông T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b (bồi thường thiệt hại), s (Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải); bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo là lao động chính trong gia đình theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Đông T từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Đề nghị xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp theo quy định pháp luật.

Ghi nhận đại diện hợp pháp của người bị hại đã nhận của bị cáo T số tiền 200.000.000đ do bị cáo bồi thường và không yêu cầu gì thêm.

- Kiểm sát viên không tranh luận.

Bị cáo và những người tham gia tố tụng không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Khánh Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đông T khai nhận toàn bộ hành vi của mình; Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm xe liên quan đến tai nạn giao thông, video và các chứng cứ khác thu thập tại hồ sơ vụ án trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, nên có đủ cơ sở kết luận:

Mặc dù, trong người có nồng độ cồn nhưng vào khoảng 21 giờ 57 phút ngày 22-10-2025, Nguyễn Đông T vẫn điều khiển xe mô tô biển số 85F1-344.80 lưu thông trên Quốc lộ B, khi đi đến Km 236+1.013,2m thuộc thôn A, xã N, tỉnh Khánh Hòa, do thiếu chú ý quan sát nên đã tung vào bà Phạm Thị Anh Đ đang đi bộ cùng chiều phía trước. Hậu quả, làm bà Phạm Thị Anh Đ ngã xuống đường bị thương tích nặng, đến ngày 23-10-2025 bà Phạm Thị Anh Đ tử vong.

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Khánh Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Đông T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi trên của Nguyễn Đông T là nguy hiểm cho xã hội, tội phạm không chỉ xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ mà còn xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác. Việc Nguyễn Đông T điều khiển xe mô tô có nồng độ cồn (0,191mg/lít khí thở - Bút lục 109, 110), không chú ý quan sát đã vi phạm quy định vào khoản 2 Điều 9 và điểm b khoản 3 Điều 12 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024, gây hậu quả chết người, nên bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện và hình ảnh Camera ghi lại vụ tai nạn giao thông thể hiện:

- Hiện đường nơi xảy ra tai nạn tại Km 236+1.013,2m, Quốc lộ B, thuộc thôn A, xã N, tỉnh Khánh Hòa là đoạn đường thẳng được trải nhựa bằng phẳng, có đền chiếu sáng, thời tiết khô ráo, đoạn đường có dải phân cách ở giữa phân chia chiều hướng, phần đường bên phải hướng xã L đi P rộng 07m, ở giữa có vạch sơn màu trắng không liên tục, phân chia thành hai làn đường, mỗi làn đường rộng 3,5m.

Quá trình khám nghiệm, lấy trụ H10 (Km236) làm mốc chuẩn và lấy mép đường nhựa bên phải hướng xã L đi P làm lề chuẩn, đồng thời là hướng khám nghiệm hiện trường tiến hành ghi nhận như sau:

- Vị trí số (1) là vị trí xảy ra va chạm giao thông giữa Nguyễn Đông T và Phạm Thị Anh Đ được Nguyễn Đông T (người bị tố giác) và Nguyễn Thị Thanh T3 (người làm chứng) chỉ và đánh dấu lại trên mặt đường nhựa quốc lộ B thuộc thôn A, xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vị trí số (1) cách lề chuẩn là 1,3m cách mốc chuẩn là 15,5m.

- Vị trí số (2) là vị trí Phạm Thị Anh Đ nằm sau khi xảy ra tai nạn được Nguyễn Đông T và Nguyễn Thị Thanh T3 chỉ và đánh dấu lại trên mặt đường nhựa quốc lộ B thuộc thôn A, xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vị trí số (2) nằm ngay trên mép đường chuẩn, cách vị trí số (1) là 3,3m.

- Vị trí số (3) là vị trí xe mô tô biển số 85F1-344.80 nằm ngã nghiên bên phải được Nguyễn Đông T và Nguyễn Thị Thanh T4 chỉ và đánh dấu lại trên mặt đường nhựa quốc lộ B thuộc thôn A, xã N, tỉnh Khánh Hòa. Đầu xe quay về hướng dải phân cách, đuôi xe quay về hướng mép đường chuẩn. Trục trước xe mô tô cách lề chuẩn là 3,7m, cách vị trí số (2) là 3,7m. Trục sau xe mô tô cách lề chuẩn 2,6m, cách vị trí số (2) là 2,8m. Tại hiện trường ghi nhận: Cách vị trí số (1) về hướng L 24,5m là khu vực ngã ba. Từ điểm đầu mép đường ngã ba về hướng L 37,4. Trục sau xe mô tô cách lề chuẩn là 2,6m, cách vị trí số (2) là 2,8m.

* Tại Kết luận giám định tử thi qua hồ sơ số 05.115/25/KLTTHS-PYKH ngày 27/11/2025 của Trung tâm P1, kết luận:“Qua nghiên cứu hồ sơ bệnh án Phạm Thị Anh Đ, sinh năm 1967, trú Thôn A, xã N, tỉnh Khánh Hòa, chúng tôi kết luận nạn nhân chết do vỡ xương hộp sọ - chấn thương nội sọ kèm theo đa chấn thương nặng.” (BL: 150-151).

Do đó lỗi gây tai nạn giao thông phần lớn thuộc về bị cáo Nguyễn Đông T. Gây đau thương mất mát cho gia đình bị hại. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo Nguyễn Đông T: điểm b (bồi thường thiệt hại), s (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) khoản 1, khoản 2 (đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo là lao động chính của gia đình) Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; nên Hội đồng xét xử xem xét hình phạt phù hợp đối với bị cáo Nguyễn Đông T.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt áp dụng là phù hợp.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận đại diện hợp pháp của người bị hại đã nhận số tiền 200.000.000đ do bị cáo bồi thường và không yêu cầu gì thêm.

Xét quan điểm của Viện Kiểm sát về việc định tội và định khung hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Đông T, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo là có căn cứ; quan điểm về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp là đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Yamaha, số loại Exciter, màu xanh, biển số 85F1-344.80 số khung RLCUG1010LY249304, số máy G3D4E1020336 chủ sở hữu là Nguyễn Đông T; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô số 027282, biển số 85F1-344.80, tên chủ xe Nguyễn Đông T; 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số 580186001157 do Sở Giao thông vận tải tỉnh N (nay là Sở Xây dựng tỉnh K) cấp ngày 26-4-2018 cho Nguyễn Đông T, nên trả lại cho T là đúng quy định pháp luật.

- 01 đĩa DVD, bỏ vào túi niêm phong mã số NS2: 23004749 (có chữ ký của Trần Nguyễn An K và La Hải P) lưu giữ 01 đoạn file có tên “7145576503048” định dạng mp4 video file, dung lượng 8,05MB, thời gian từ 21:57:06 đền B:57:37, ghi lại vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra ngày 22/10/2025 tại Km 236+1.013,2m Quốc lộ B thuộc Thôn A, xã N, tỉnh Khánh Hòa. Đây là vật chứng điện tử được thu giữ theo quy định nên lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đông T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đông T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đông T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận số tiền 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng chẳn) do bị cáo bồi thường và không yêu cầu gì thêm.

Về án phí:

Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Đông T phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, có mặt bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20-5-2026). Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ