vanban.org

Bản án 19/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn C phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nông Văn C 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 07/11/2025. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Văn C phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm d khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự (BLHS). - phạm tội sử dụng trái phép chất…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn C phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2026/HS-ST
Ngày 02-02-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CAO BẰNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sầm Đức Hiệp Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nông Thế Hạp

2. Bà Ngôn Thị Liêm

- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Thu Hương – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Lục Thị Liễu - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số: 09/2026/TLST-HS ngày 09/01/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2026/QĐXXST-HS ngày 20/01/2026 đối với bị cáo:

- Nông Văn C, sinh ngày 18/02/1984 tại xã T, tỉnh Cao Bằng.

Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: xóm D, xã T, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn C1 và bà Lương Thị H, đều sinh năm 1952; vợ: Hoàng Thị L, sinh năm 1984, con: có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: ngày 14/4/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xử phạt 08 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngày 21/5/2020, chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/11/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam T thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh C. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nông Văn C là người đang tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế (Methadone) tại Cơ sở điều trị Methadone số 1, Trung tâm Y tế huyện T từ ngày 22/10/2021. Ngày 09/6/2025, C bị Trung tâm Y tế huyện T lập biên bản về việc bệnh nhân ngừng điều trị do tự ý bỏ uống thuốc từ ngày 03/6/2025 đến ngày 09/6/2025. Cùng ngày 09/6/2025, Trung tâm Y tế huyện T ra Thông báo về việc chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế số 92/TB-TTYT đối với C, ngày ngừng điều trị: 09/6/2025; lý do: bệnh nhân tự ý bỏ điều trị từ 07 ngày trở lên theo Quyết định số 4066/QĐ-BYT ngày 31/12/2024 của Bộ Y về việc ban hành hướng dẫn điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone. Hồi 07 giờ 30 phút ngày 05/11/2025, tổ công tác Công an xã T phối hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh C và Trạm Y tế xã T tiến hành test nhanh chất ma túy trong cơ thể đối với Nông Văn C. Kết quả: Nông Văn C dương tính với chất ma túy trong cơ thể.

Quá trình điều tra đã chứng minh được như sau: Khoảng 15 giờ đến 16 giờ ngày 04/11/2025, C đi bộ từ nhà đến quán trà đá thuộc xóm D, xã T, tỉnh Cao Bằng thì gặp Nông Thái S, trú tại xóm D, xã T, tỉnh Cao Bằng. Chức nhờ S đi mua ma túy (heroine) với số tiền 200.000 đồng. S đồng ý và nhận tiền rồi rời đi, khoảng 15 phút thì quay lại đưa cho C 01 gói ma túy được gói bằng giấy bạc màu vàng. Mua được ma túy, C đến khu vực nhà bia tưởng niệm liệt sỹ thuộc xóm D, xã T đem số heroine ra pha chế vào nước cất rồi sử dụng bằng cách dùng bơm kim tiêm chích trực tiếp vào cơ thể. Sau khi sử dụng xong, C vứt bơm kim tiêm ngay tại khu vực đó. Ngày 05/11/2025, C được Cơ quan chức năng mời lên làm việc và xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể. Kết quả xét nghiệm: Chức dương tính chất ma túy trong cơ thể. Cùng ngày 05/11/2025, Cơ quan điều tra thu mẫu nước tiểu của Nông Văn C gửi trưng cầu giám định tại Công an tỉnh B (trưng cầu ngoài địa phương).

Tại Kết luận giám định số 3296/KL-KTHS ngày 07/11/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu nước tiểu thu của Nông Văn C, sinh năm 1984, HKTT: Tổ dân phố D T, Cao Bằng gửi giám định tìm thấy Morphine, 6-MAM (6-Monoacetylmorphine) là sản phẩm chuyển hóa của H (Heroine).

Tại bản Cáo trạng số 44/CT-VKSKV3 ngày 07/01/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Cao Bằng đã truy tố Nông Văn C về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm d khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị cho bị cáo được các hưởng tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 256a, các điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo C từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện đúng như Cáo trạng phản ánh và cho rằng việc truy tố bị cáo C về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo không có ý kiến bào chữa, không tranh luận với các quan điểm của đại diện Viện kiểm sát và không có khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật TTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện và các yếu tố cấu thành tội phạm:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, hoàn toàn phù hợp với các lời khai tại Cơ quan Điều tra và phù hợp với các tài liệu khác, chứng cứ có trong hồ sơ, nên đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế Methadone, Nông Văn C đã sử dụng trái phép chất ma túy Heroine. Kết luận giám định số 3296/KL-KTHS ngày 07/11/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu nước tiểu thu của Nông Văn C, sinh năm 1984, HKTT: Tổ dân phố D T, Cao Bằng gửi giám định tìm thấy Morphine, 6-MAM (6-Monoacetylmorphine) là sản phẩm chuyển hóa của Heroine. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nông Văn C đã phạm vào tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, tuy nhiên, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được việc sử dụng trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Cao Bằng đã truy tố và đề nghị mức án đối với bị cáo là hoàn toàn phù hợp.

. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại Cơ quan điều tra và phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS nên cần được xem xét áp dụng cho bị cáo.

Sau khi xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, quá trình thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, hậu quả gây ra, nhân thân và các tình tiết khác của vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Nông Văn C có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tuy nhiên về nhân thân, bị cáo là người nghiện ma tuý, ngoài lần phạm tội này, ngày 14/4/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xử phạt 08 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 194 BLHS năm 1999; chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/5/2020, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, điều này cho thấy bị cáo có ý thức coi thường pháp luật, chưa chấp hành tốt chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nếu tại ngoại sẽ tạo cơ hội cho việc phạm tội mới, nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, mới có tác dụng giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và răn đe, phòng ngừa chung.

. Về nhận định khác: Quá trình điều tra, bị cáo khai được nhờ Nông Thái S, sinh năm 1974, trú tại xóm D, xã T, tỉnh Cao Bằng đi mua ma tuý cho giúp, tuy nhiên không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý Nông Thái S, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Bị cáo là người bị kết tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 256a; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025);

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn C phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nông Văn C 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 07/11/2025.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nông Văn C phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, Điều 333 Bộ luật TTHS. Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ