- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng văn DŨng - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 199 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn D phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- PHÚ THỌ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2026/HS-ST Ngày: 26/01/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lệ Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Quang Huấn;
2. Ông Cao Xuân Huy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Tùng Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Mạnh Linh - Kiểm sát viên .
Ngày 26 tháng 01 năm 2026, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2025/HSST ngày 19/12/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HS ngày 30/12/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2026/QĐST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2026 và Thông báo mở lại phiên tòa số 02/2026/QĐST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2026, đối với bị cáo:
Hoàng Văn D; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 14/7/1984, tại xã L, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu C, xã L, tỉnh Phú Thọ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, đoàn: Không; Bố đẻ: Không xác định; Mẹ đẻ: Hoàng Thị T, sinh năm 1955; Vợ: Đào Thị N, sinh năm 1986; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân:
+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 14/01/2014, Công an phường T- thành phố V xử phạt D 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Đã nộp phạt.
+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 24/02/2014, Công an T2, tỉnh Phú Thọ xử phạt D về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Chưa nộp phạt.
+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 28/02/2014, Công an phường N, thành phố V xử phạt D 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Đã nộp phạt.
+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 20/01/2015, Công an huyện L, tỉnh Phú Thọ xử phạt 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Đã nộp phạt.
Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam và bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã L, tỉnh Phú Thọ từ ngày 28/9/2025 cho đến nay. Hôm nay vắng mặt tại phiên tòa (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :
Hoàng Văn D, sinh năm 1984, ở khu C (thị trấn H cũ), xã L, tỉnh Phú Thọ là người nghiện ma túy. D bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2009. Ngày 06/6/2021, D tự nguyện đăng ký tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại Cơ sở sở điều trị Methadone Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh P cho đến nay. Trong thời gian điều trị các chất thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone thì ngày 23/9/2025 D tiếp tục thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cụ thể như sau:
Khoảng 08 giờ 00 ngày 23/9/2025, Hoàng Văn D đi bộ từ nhà ra ngoài đường, D gặp một người nam giới đi đường (Không xác định được nhân thân) D đi nhờ người nam giới này lên phường Â, tỉnh Phú Thọ. Khi người nam giới này chở D đi đến gần khu vực hồ nước thuộc khu A, phường Â, tỉnh Phú Thọ, D nhìn thấy một người đàn ông đang đi ở ven đường, D nhận ra người này tên là H (không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể). D bảo người nam giới cho đi nhờ dừng xe, D xuống xe một mình đi bộ ra gặp H và hỏi mua 200.000 đồng ma túy H1, H đồng ý, D đưa cho H 200.000 đồng, H cầm tiền rồi đi đâu không rõ, còn D đứng lại ở ven đường gần hồ nước để đợi H. Một lúc sau, H quay lại và đưa cho D một gói giấy nhỏ, D biết đây là gói ma túy Heroin. D cầm gói ma túy Heroin này và đứng đợi người đi đường để đi nhờ xe về nhà. Một lúc sau, D thấy có một người nam giới khác ((không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể) đi đường qua, D hỏi người nam giới này cho đi nhờ về xã L, tỉnh Phú Thọ. Người này đồng ý và chở D ngồi sau đi hướng về xã L Trên đường đi, khi đến một cửa hàng thuốc tân dược ở ven đường (D không xác định được tên hiệu thuốc, địa chỉ ở đâu), D nhờ người nam giới dừng xe để D vào cửa hàng thuốc. Sau đó, D vào cửa hàng thuốc tân dược và mua 01 bơm kim tiêm loại 03cc cùng 01 ống nước cất với giá 3.000 đồng. Sau đó, D lên xe của người nam giới này về đến gần nhà D thì D xuống xe rồi đi bộ về. D cầm gói ma túy Heroin vừa mua được nêu trên cùng bơm kim tiêm, nước cất đi vào trong phòng ngủ trong nhà để sử dụng ma túy Heroin. Sau khi sử dụng ma túy Heroin xong, D cầm xi lanh và vỏ ống nước cất đi ra khu vực vườn cây nhà ở gia đình và ném xuống dưới ao nước bỏ hoang cạnh vườn cây để người nhà không phát hiện. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm ống bơm kim tiêm và vỏ ống nước cất của D nhưng không thu giữ được.
Đến hồi 9 giờ 30 phút ngày 25/9/2025 Công an xã L, tỉnh Phú Thọ tiến hành kiểm tra ma tuý bằng hình thức sử dụng que test ma tuý qua nước tiểu đối với Hoàng Văn D. Kết quả kiểm tra xác định: Trong nước tiểu của Hoàng Văn D dương tính với chất ma tuý loại Heroine. Công an xã L tiến hành lập biên bản, niêm phong mẫu nước tiểu còn lại của Hoàng Văn D theo quy định.
Ngày 25/9/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P ra Quyết định trưng cầu giám định mẫu nước tiểu của D. Tại bản kết luận giám định số 2219 ngày 29/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: Trong mẫu nước tiểu thu giữ của Hoàng Văn D, SN: 1984, HKTT: khu 3 xã L, Phú Thọ, ngày thu mẫu 25/09/2025 gửi đến giám định tìm thấy chất ma túy, loại Morphine, C. * Morphine là sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong cơ thể. Morphine: Số thứ tự 55, Danh mục IIA, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ. Codeine: Số thứ tự 06, Danh mục IIB, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ. `Kèm theo kết luận giám định: biên bản mở niêm phong và giao, nhận đối tượng giám định
Hoàn trả lại đối tượng giám định: không
Mẫu nước tiểu gửi đến giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho D: Quá trình điều tra, D khai chỉ biết người này tên là H, còn tên tuổi địa chỉ người này cụ thể ra sao D không biết, Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát nhưng không xác định được người đàn ông này do đó không có căn cứ để xử lý.
Tại cơ quan điều tra, Hoàng Văn D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của D phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Về vật chứng, đồ vật, tài sản thu giữ, xử lý: Đối với mẫu nước tiểu đã thu giữ của D đã được Phòng K Công an tỉnh P sử dụng hết trong quá trình giám định.
Về điều kiện kinh tế: Hoàng Văn D và gia đình đang sống trên nhà và đất của mẹ đẻ tại xã L, tỉnh Phú Thọ.
Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKSKV2 ngày 17/12/2025 của VKSND khu vực 2
- Phú Thọ đã truy tố Hoàng Văn D về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 1 điều 256a Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn D phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” Áp dụng điểm a khoản 1 điều 256a, điểm i, s khoản 1, điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt Hoàng Văn D từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Về án phí : Bị cáo D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo D vắng mặt nên không tranh luận, bào chữa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo D không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, lời khai nhận tội của bị cáo có lưu trong hồ sơ thể hiện: Bị cáo là người đang trong thời gian điều trị cai nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế Methadone theo bệnh án của Sở Y tế tỉnh P. Theo hồ sơ và phiếu theo dõi điều trị, D được cấp phát Methadone hằng ngày, liên tục từ ngày 06/6/2021 cho đến nay. Tuy nhiên, do không kiên trì điều trị, muốn sử dụng lại ma túy trở lại, nên ngày 23/9/2025, tại nhà ở của gia đình D thuộc khu C, xã L, tỉnh Phú Thọ, D đã sử dụng trái phép chất ma túy loại Heroin bằng hình thức tiêm chích qua đường tĩnh mạch. Kết luận giám định xác định trong mẫu nước tiểu của D có chứa chất ma túy loại Morphine, C.
Lời nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và vật chứng thu được của vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ pháp lý kết luận bị cáo Hoàng Văn D phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 điều 256a Bộ luật hình sự.
Điều 256a Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:
a) Đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;”
Xét tính chất vụ án: Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người đang trong thời gian điều trị cai nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế Methadone, không kiên trì điều trị, đã sử dụng trái phép chất ma túy loại Morphine, Codeine bằng hình thức tiêm chích qua đường tĩnh mạch. Tại cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 23/9/2025. Như vậy, có đủ cơ sở và căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo D đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 điều 256a Bộ luật hình sự. Do đó vụ án cần phải được đưa ra xét xử kịp thời nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Xét về nhân thân bị cáo: Bị cáo D là người đã thành niên, có sức khỏe,chưa có tiền án, tiền sự nhưng nhân thân xấu do đã nhiều lần bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. D biết rõ tác hại của ma túy với bản thân và xã hội nhưng không tu dưỡng, rèn luyện, không kiên trì để cai nghiện ma tuý hoàn toàn mà tiếp tục sử dụng ma tuý để thoả mãn cơn nghiện của bản thân. Tại cơ quan điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Các hành vi vi phạm hành chính của bị cáo đã được xóa án tích đương nhiên nên lần phạm tội này là phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Do đó bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1điều 51 BLHS. Bị cáo không có tiền án, tiền sự nên không phải chịu tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu do nhiều lần bị cơ quan có thẩm quyền sử phạp vi phạm hình chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.... Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã nêu, HĐXX cân nhắc thấy rằng cần phải phạt tù với mực dưới khung hình phạt để cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mới đủ giáo dục bị cáo trở thành người có ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới và cũng nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Đề xuất của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp cần chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung : Điều 256a BLHS không có qui định về hình phạt bổ xung nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
Đối với mẫu nước tiểu của D dùng để giám định, cơ quan giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định, không có mẫu vật để hoàn trả nên không có vật chứng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người đàn ông bán ma túy tên H cho D như D khai, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh rà soát, tuy nhiên không có kết quả, quá trình điều tra D khai nhận chỉ biết tên, không rõ đặc điểm nhận dạng, họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người đàn ông trên. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở để xác minh xử lý là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo D phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 điều 256a, điểm i, s khoản 1điều 51, điều 38, khoản 1 điều 54, khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2, 3 điều 106, khoản 2 điều 136, Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23, Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn D phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Hoàng Văn D 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ, bị cáo vắng mặt được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.
| Nơi nhận : - Bị cáo; - Viện KSND khu vực 2- Phú Thọ; - Viện KSND tỉnh Phú Thọ; - Cơ quan CSĐT công an tỉnh Phú Thọ; - Cơ quan THAHS công an tỉnh Phú Thọ; - THADS tỉnh Phú Thọ; - Phòng hồ sơ NV, CA tỉnh Phú Thọ; - Phòng GĐ,KT,TT vàTHA TAND tỉnh PT; - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Lệ Thanh |