vanban.org

Bản án 19/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 21/01/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh C phạm tội " Sử dụng trái phép chất ma túy ”.

Về hình phạt: Căn cứ Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 256 a; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025) xử phạt bị cáo: Hoàng Minh C: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh C phạm tội " Sử dụng trái phép chất ma túy ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2026/HS-ST
Ngày 21 - 01 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN KHU VỰC 1 – LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Tuyến.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Oanh – Bà Đình Thị Thanh Hải

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Minh Lý - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 - Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Hoà - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2026 tại Toà án nhân dân khu vực 1 – Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 63/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2026, đối với bị cáo:

Hoàng Minh C; tên gọi khác: không, sinh ngày 02 tháng 10 năm 1990 tại tỉnh Lào Cai; Căn cước công dân số: 015090002741, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ C2; nơi thường trú: Tổ dân phố Y, phường Y, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Như C1 và bà Nguyễn Thị Hồng T; có vợ là Hoàng Thị T1 và 03 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2022; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 21 tháng 7 năm 2013, Công an thành phố Y, tỉnh Yên Bái ra Quyết định xử phạt hành chính số 173/QĐ-XPVPHC về hành vi “ Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Ngày 27 tháng 8 năm 2013, Công an thành phố Y, tỉnh Yên Bái ra Quyết định xử phạt hành chính số 177/QĐ-XPVPHC về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”; ngày 01 tháng 12 năm 2015, Công an thành phố Y, tỉnh Yên Bái ra Quyết định xử phạt hành chính số 12/QĐ-XPVPHC về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” đều chưa chấp hành quyết định.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09 tháng 10 năm 2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh L; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Minh C là người nghiện chất ma tuý đang tham gia điều trị cai nghiện bằng thuốc thay thế Methadone theo Quyết định số 67/QĐ-TTPCHIV/AIDS ngày 30/10/2013 của Trung tâm P là Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh L (mã số bệnh nhân 029 - 01 – 00037. Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 04 tháng 10 năm 2025, do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma tuý C đã một mình đi bộ từ nhà C tổ dân phố Y, phường Y, tỉnh Lào Cai đến khu vực đầu cầu Y thuộc địa phận phường Â, tỉnh Lào Cai để tìm mua Heroine. Tại đây, C gặp một người đàn ông (không biết tên, tuổi địa chỉ) và mua của người này 01 gói Heroine với giá 300.000 đồng (là tiền do C lao động mà có). Sau khi mua được H, C mang về nhà tổ dân phố Y, phường Y, tỉnh Lào Cai, cùng ngày C đã dùng bơm kim tiên và nước cất C đã mua trước đó nhưng không nhớ rõ địa điểm mua bơm kim tiêm và nước cất, C pha số Heroine rồi trích trực tiếp vào cơ thể, C vứt bơm kim tiêm và ống nước cất sau khi sử dụng xong ma tuý. Đến ngày 09 tháng 10 năm 2025, C bị Công an phường Y tiến hành lấy mẫu nước tiểu xét nghiệm. Kết quả giám định nước tiểu thu giữ giám định mẫu nước tiểu thu được của Hoàng Minh C ngày 09 tháng 10 năm 2025 tìm thấy chất ma tuý loại Morphine.

* Tại bản kết luận giám định số: 2540/KL-KTHS ngày 12 tháng 10 năm 2025 của Phòng K, Công an tỉnh P kết luận:

Trong chất lỏng màu vàng ghi mẫu nước tiểu của Hoàng Minh C, sinh năm 1990, thu ngày 09/10/2025 gửi đến giám định tìm thấy chất ma tuý, loại Morphine. Morphine là sản phẩm chuyển hoá của của H trong cơ thể người. Morphine số thứ tự 55, Mục IIA Nghị định 57/2022/ NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ.

Cáo trạng số 49/CT-VKS-KV1 ngày 23 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Lào Cai truy tố Hoàng Minh C về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh C phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 256 a; điểm i; s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025) phạt bị cáo Hoàng Minh C từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, không có ý kiến tranh luận gì xin được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận:

Hoàng Minh C là người nghiện chất ma tuý đang tham gia điều trị cai nghiện bằng thuốc thay thế Methadone theo Quyết định số 67/QĐ-TTPCHIV/AIDS ngày 30/10/2013 của Trung tâm P là Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh L (mã số bệnh nhân 029 - 01 – 00037). Tuy nhiên, ngày 04 tháng 10 năm 2025 C vẫn cố ý đi mua ma tuý loại Heroine mang về sử dụng trái phép tại tổ dân phố Y 14, phường Y, tỉnh Lào Cai. Hành vi của bị cáo Hoàng Minh C đã đủ yếu tố cấu thành tội sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm a khoản 1 Điều 256 a của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lào Cai truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ thống nhất quản lý các chất ma tuý của nhà nước, trực tiếp xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng của người sử dụng, xâm phạm đến sự phát triển bình thường của giống nòi, dân tộc, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội là nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Hành vi phạm tội của bị cáo đang bị toàn xã hội bài trừ và lên án. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật cần thiết.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhân thân: Năm 2013 và năm 2015 bị cáo đã 03 lần bị xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Bị cáo nhận thức được bản thân là người nghiện chất ma tuý đang tham gia điều trị cai nghiện bằng thuốc thay thế Methadone nhưng vẫn cố ý đi mua ma tuý loại Heroine đã sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, ý thức rèn luyện bản thân của bị cáo là rất kém. Do vậy, cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội và đảm bảo tác dụng phòng ngừa chung.

Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

-Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Các vấn đề khác trong vụ án: Về nguồn gốc số ma túy bị cáo khai mua của người đàn ông không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên không đủ cơ sở để xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực Lào Cai là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh C phạm tội " Sử dụng trái phép chất ma túy ”.

2. Về hình phạt: Căn cứ Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 256 a; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025) xử phạt bị cáo:

Hoàng Minh C: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 10 năm 2025.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo:

Hoàng Minh C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo Hoàng Minh C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ