vanban.org

Bản án 19/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lý Lở M ly hôn anh Lồ Láo S. Quan hệ hôn nhân của anh, chị chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: Xử giao cháu Lý Thu H, sinh ngày 10/10/2016 và cháu Lý Đức D, sinh ngày 25/4/2018 cho chị Lý Lở M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Lồ Láo S không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Sau khi ly hôn, anh Lồ Láo S có quy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án ly hôn, trah chấp về nuôi con khi ly hôn giữa chị Lý Lở M và anhy Lồ Láo S"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lý Lở M ly hôn anh Lồ Láo S. Quan hệ hôn nhân của anh, chị chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 05/5/2026
V/v:“Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Sùng A Cở và ông Lý Láo Tả

- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Hoàng Tùng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Lồ Kim Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 05/5/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 82/2025/TLST- HNGĐ ngày 16/12/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2026/QĐXXST- HNGĐ ngày 30/3/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2026/QĐST-HNGĐ ngày 15/4/2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lý Lở M - Sinh năm 1992

Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx; Ngày cấp 13/6/2022; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội

Địa chỉ: Thôn N, xã M, tỉnh Lào Cai

Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Lồ Láo S - Sinh năm 1989

Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx

Địa chỉ: Thôn N, xã M, tỉnh Lào Cai

Vắng mặt, lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/12/2025, bản tự khai ngày 16/12/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án chị Lý Lở M trình bày: Chị và anh Lồ Láo S tự nguyện về chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2016, được gia đình hai bên tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương. Đến ngày 05/10/2017 anh chị đi đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện S, tỉnh Lào Cai (nay là UBND xã M, tỉnh Lào Cai). Sau ngày cưới anh chị chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính do tính tình không hợp, anh Lồ Láo S không quan tâm đến gia đình và không tu chí làm ăn, vợ chồng bất đồng quan điểm sống thường xuyên cãi nhau, cuộc sống chung không hòa thuận, hạnh phúc. Khi mâu thuẫn xảy ra chị cũng đã tìm cách khắc phục mâu thuẫn và gia đình hai bên cũng tham gia khuyên bảo hòa giải nhiều lần nhưng anh, chị vẫn không khắc phục được mâu thuẫn, mà mâu thuẫn của anh chị ngày càng trầm trọng hơn. Do không khắc phục được mâu thuẫn nên vợ chồng anh chị đã tự sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay, trong thời gian sống ly thân hai bên không còn quan tâm thăm hỏi đến nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể khắc phục được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lồ Láo S.

Về con chung: Chị Lý Lở M xác nhận trong thời gian chung sống vợ chồng chị có 02 người con chung là cháu Lý Thu H, sinh ngày 10/10/2016 và cháu Lý Đức D, sinh ngày 25/4/2018, các cháu đều khỏe mạnh và phát triển bình thường, hiện cả 02 cháu đang ở cùng với chị Lý Lở M. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 cháu cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Lý Lở M không yêu cầu anh Lồ Láo S phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị Lý Lở M xác nhận trong thời gian chung sống vợ chồng chị có tạo dựng được một số tài sản chung, trị giá không lớn. Khi ly hôn chị thỏa thuận tự chia nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Chị Lý Lở M xác nhận trong thời gian chung sống, vợ chồng chị không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Lồ Láo S, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng anh Lồ Láo S không có văn bản trả lời ý kiến và không có mặt theo giấy triệu tập.

Tại biên bản ghi ý kiến của con chưa thành niên ngày 22/12/2025 cháu Lý Thu H và cháu Lý Đức D có nguyện vọng được mẹ đẻ là chị Lý Lở M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về việc cung cấp tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án, nguyên đơn đã cung cấp đầy đủ các tài liệu chứng cứ về nhân thân, địa chỉ thường trú, về việc có đăng ký kết hôn và có con chung. Bị đơn không cung cấp tài liệu chứng cứ gì.

Đối với vụ án này Toà án không tiến hành hoà giải được về quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng chăm sóc con chung. Vì anh Lồ Láo S đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do, nên Toà án đã tiến hành lập biên bản về việc anh Lồ Láo S vắng mặt để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Lào Cai nhận định: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tố tụng được tiến hành đầy đủ, đúng quy định. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của pháp luật; Bị đơn nhận được các tài liệu tố tụng, nhưng không chấp hành giấy triệu tập của Toà án, không đến làm việc, không gửi bản ghi ý kiến của mình, không thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 238, khoản 4 Điều 147; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu phí, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lý Lở M.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lý Lở M ly hôn anh Lồ Láo S

Về con chung: Xử giao cháu Lý Thu H, sinh ngày 10/10/2016 và cháu Lý Đức D, sinh ngày 25/4/2018 cho chị Lý Lở M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Lồ Láo S không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Tuyên quyền thăm nom con chung của người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung, án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về áp dụng pháp luật tố tụng: Chị Lý Lở M có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 7 – Lào Cai giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” với anh Lồ Láo S, sinh năm 1989 địa chỉ: Thôn N, xã M, tỉnh Lào Cai. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 35 sửa đổi bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Lào Cai. Tại phiên tòa chị Lý Lở M có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Lồ Láo S đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt anh Lồ Láo S và chị Lý Lở M theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện: Chị Lý Lở M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lồ Láo S.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Lở M và anh Lồ Láo S kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 05/10/2017 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện S, tỉnh Lào Cai (nay là UBND xã M, tỉnh Lào Cai), đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau kết hôn anh chị chung sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính do tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi nhau, cuộc sống chung không hòa thuận hạnh phúc. Do không khắc phục được mâu thuẫn nên anh chị đã tự sống ly thân từ năm 2022 và không còn quan tâm thăm hỏi đến nhau. Mâu thuẫn của anh chị đã được chính quyền địa phương xác nhận là đúng sự thật, tại phiên tòa chị Lý Lở M vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn anh Lồ Láo S. Đối với anh Lồ Láo S vắng mặt tại phiên tòa, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng anh Lồ Láo S không có mặt và cũng không có văn bản trả lời. Xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng chị Lý Lở M và anh Lồ Láo S đã thực sự trầm trọng, anh chị sống ly thân đã lâu, không còn quan tâm thăm hỏi đến nhau, việc chị Lý Lở M khởi kiện xin ly hôn anh Lồ Láo S là có căn cứ. Vì vậy Hội đồng xét xử cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Lý Lở M ly hôn anh Lồ Láo S.

. Về con chung: Quá trình chung sống chị Lý Lở M và anh Lồ Láo S có hai người con chung là cháu Lý Thu H, sinh ngày 10/10/2016 và cháu Lý Đức D, sinh ngày 25/4/2018, các cháu đều khỏe mạnh và phát triển bình thường, hiện các cháu đang ở cùng chị Lý Lở M. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai cháu, chị không yêu cầu anh Lồ Láo S phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh Lồ Láo S không có ý kiến gì về việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ gì. Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy kể từ khi anh chị sống ly thân cháu Lý Thu H và cháu Lý Đức D ở cùng chị Lý Lở M, tại biên bản về việc ghi ý kiến của con chưa thành niên ngày 22/12/2025 cả hai cháu đều có nguyện được mẹ đẻ là chị Lý Lở M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Trong quá trình giải quyết vụ án chị Lý Lở M có đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ về mâu thuẫn và mức thu nhập bình quân của lao động nam và nữ tại địa phương do chị không thể cung cấp được. Tại biên bản xác minh ngày 18/12/2025 trưởng Thôn N, xã M, tỉnh Lào Cai cung cấp về mâu thuẫn của vợ chồng chị Lý Lở M và mức thu nhập bình quân của lao động tự do tại địa phương từ 250.000 đồng đến 300.000 đồng/người/ngày. Để đảm bảo cuộc sống ổn định của cháu Lý Thu H và cháu Lý Đức D, xuất phát từ lợi ích mọi mặt của các cháu và nguyện vọng của các cháu. Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Lý Thu H và cháu Lý Đức D cho chị Lý Lở M tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung: Chị Lý Lở M không yêu cầu anh Lồ Láo S phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung, vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

. Về tài sản chung: Chị Lý Lở M xác nhận vợ chồng chị có tạo dựng được một số tài sản chung, trị giá không lớn. Khi ly hôn chị thỏa thuận tự chia nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

. Về công nợ chung: Chị Lý Lở M xác nhận trong thời gian chung sống, vợ chồng chị không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

. Về án phí: Chị Lý Lở M phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lý Lở M ly hôn anh Lồ Láo S. Quan hệ hôn nhân của anh, chị chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Xử giao cháu Lý Thu H, sinh ngày 10/10/2016 và cháu Lý Đức D, sinh ngày 25/4/2018 cho chị Lý Lở M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Lồ Láo S không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, anh Lồ Láo S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Lý Lở M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002284 ngày 15/12/2025. Chị Lý Lở M đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ