vanban.org

Bản án 19/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với ông Hồ Mạnh V.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Hồ Mạnh V. Về con chung: Giao cả hai con chung là Hồ Tiến V1, sinh ngày 22/04/2010 và Hồ Tiến P, sinh ngày 12/11/2012 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Nguyễn Thị H yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với ông Hồ Mạnh V"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với ông Hồ Mạnh V.
  • Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2026/HNGĐ-ST
Ngày 30 - 01 - 2026.
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đại.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đậu Thị Mỹ Long.

2. Ông Trần Văn Tam.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1- Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Đồng Nai: Bà Nguyễn Thị Đông – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 419/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 209/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh ngày 06/8/1991; Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx, Cục CSQLHC về trật tự xã hội cấp ngày 09/01/2022

Nơi cư trú: Tổ 48, khu phố 4C, phường T, tỉnh Đ.

2. Bị đơn: Ông Hồ Mạnh V, sinh ngày 24/6/2989; Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx, Bộ Công an cấp ngày 24/7/2025.

Nơi cư trú: Tổ 48, khu phố 4C, phường T, tỉnh Đ.

(Bà H và ông V vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông V tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Ngô Mây, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum (nay là phường Đắk Cấm, tỉnh Quảng Ngãi) ngày 09/9/2009. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp, bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, vợ chồng nhiều lần hòa giải nhưng không được. Vợ chồng đã ly thân từ đầu tháng 6/2025 do không thể sống chung với nhau. Nay bà xác định tình trạng mâu thuẫn vợ chồng càng trầm trọng, hôn nhân lâm vào bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông V.

+ Về con chung: Bà và ông V có 02 con chung là Hồ Tiến V1, sinh ngày 22/04/2010 và Hồ Tiến P, sinh ngày 12/11/2012. Sau ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cả hai con chung đến khi trưởng thành.

Về cấp dưỡng: Theo đơn khời kiện bà yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung với mức cấp dưỡng mỗi con chung 2.000.000đ/tháng. Quá trình giải quyết bà thay đổi yêu cầu, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con nữa.

+ Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Bị đơn ông Hồ Mạnh V đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án làm việc và cung cấp lời khai.

3. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát đã P biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự và đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền, thủ tục tố tụng:

1.1. Bị đơn ông Hồ Mạnh V cư trú tại phường Trảng Dài, tỉnh Đồng Nai, nên đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai.

1.2. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H đã có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Hồ Mạnh V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các bên đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông V tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Ngô Mây, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum (nay là phường Đắk Cấm, tỉnh Quảng Ngãi) từ năm 2009. Căn cứ Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 hôn nhân giữa bà H và ông V là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống giữa hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, bà H có đơn khởi kiện xin ly hôn với ông V nên Tòa án áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 để giải quyết.

Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông V xảy ra mâu thuẫn từ đầu năm 2025 cho đến nay, vợ chồng đã tìm cách hòa giải, khắc phục mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Hiện nay vợ, chồng sống ly thân, không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành hòa giải theo quy định nhưng ông V vắng mặt, không tham gia phiên hòa giải đoàn tụ và không tham gia tố tụng tại phiên tòa, chứng tỏ ông V không quan tâm đến quan hệ hôn nhân của mình.

Qua xác minh tại chính quyền địa phương thì giữa bà H và ông V có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân đúng như bà H đã trình bày.

Từ những nhận định trên, đủ cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông V là có thật, vợ chồng không còn có sự quan tâm, chăm sóc nhau. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà H, bà H được ly hôn với ông V.

Về con chung: Bà H và ông V có 02 con chung là Hồ Tiến V1, sinh ngày 22/04/2010 và Hồ Tiến P, sinh ngày 12/11/2012. Ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, ông V không có ý kiến nội dung này.

Hiện nay 02 con đang sinh sống cùng với bà H, nguyện vọng các con chung cũng mong muốn được sống chung với bà H, bà H có đi làm, có mức thu nhập hàng tháng đảm bảo cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung.

Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H, giao con chung là Hồ Tiến V1, sinh ngày 22/04/2010 và Hồ Tiến P, sinh ngày 12/11/2012 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con bà H không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Sau ly hôn, ông V được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản chung: Bà H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Bà H khai không có nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà H khởi kiện về ly hôn nên phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nhận định trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 203, Điều 220, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Điều 9, Điều 19, Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57 và Điều 131 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;

- Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với ông Hồ Mạnh V.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Hồ Mạnh V.

- Về con chung: Giao cả hai con chung là Hồ Tiến V1, sinh ngày 22/04/2010 và Hồ Tiến P, sinh ngày 12/11/2012 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng.

- Về cấp dưỡng: Không xem xét, giải quyết.

Ông V có quyền, nghĩa vụ thăm non con chung, không ai được cản trở. Khi điều kiện thay đổi và vì quyền lợi của con, đương sự được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0001812 ngày 29/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.

3. Bản án được thi hành theo quy định tại các Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9 và Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo luật định.

Cỡ chữ