- Tranh chấp gì? án hình sự — "Kiêm, Công - MBTPCMT và TTTPCMT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2025/HSST Ngày 04/8/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – HƯNG YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Xuyên và bà Nguyễn Thị Vân Khánh
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thuận Yến - Thư ký viên chính Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khu vực 7 - Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7, Hưng Yên, Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Hưng Yên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, C khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2025/TLST - HS ngày 10/7/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST - HS ngày 23/7/2025, đối với:
Các bị cáo:
1. Nguyễn Duy K, sinh ngày 27/12/1987, giới tính: Nam; căn cước C dân số: 034087005491
Nơi cư trú: Thôn H L, xã Đ T N, tỉnh Hưng Yên (xã Mỹ Lộc, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình cũ);
Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không, trình độ học vấn: 12/12, nghề nghiệp: lao động tự do. Con ông Nguyễn Xuân T (ông T là thương binh, hạng 3/4); Con bà Lê Thị K, Vợ: Tạ Thị X, Có 2 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
+ Ngày 27/7/2012 bị Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 năm tù về “Tội mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án số 161/2012/HSST đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 23/10/2016.
+ Ngày 28/7/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xử phạt 06 tháng tù về “Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo bản án số 60/2022/HSST đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 09/10/2022.
Bị cáo bị giữ khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 24/4/2025, đến ngày 30/4/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 C an tỉnh Hưng Yên.
2. Nguyễn Chí C, sinh ngày 12/7/1983, giới tính: nam; căn cước C dân số: 034083009594.
Nơi thường trú: tổ 3, phường V Ph, tỉnh Hưng Yên (phường Ph Kh, thành phố Thái Bình cũ);
Chỗ ở: thôn B T, xã Th N, tỉnh Hưng Yên (xã H A, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình cũ);
Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không, trình độ học vấn: 12/12, nghề nghiệp: lao động tự do, Con ông Nguyễn C S; Con bà Giang Thị M – Bà M được nhà nước tặng huy chương kháng chiến hạng nhất, Vợ: Vũ Thị H, sinh năm 1999, trú tại thôn B T, xã Thái Ninh, tỉnh Hưng Yên. Con : có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2019.
Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/4/2025, đến ngày 30/4/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 C an tỉnh Hưng Yên.
( Các bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa)
Người chứng kiến:
- Ông Giang Văn Ch, sinh năm 1974
- Ông Trần Văn D, sinh năm 1975
Đều ở địa chỉ: Thôn B T, xã Thái Ninh, tỉnh Hưng Yên
(Đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến vụ án tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 23/4/2025, Nguyễn Duy K, thuê một người đàn ông lái xe mô tô chở đến cầu Diêm Điền tìm mua ma tuý để về bán lại kiếm lời. Khi xuống xe, K đi bộ ở phía đầu cầu, thuộc địa phận xã Thái Ninh thì gặp, mua của một người không quen biết 2.000.000 đồng được 01 túi nilon đựng ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 2,2563 gam. Sau khi cất giấu túi ma túy vào trong túi quần, K thuê một người đàn ông khác lái xe mô tô chở về. Khi về nhà, K chia ma túy vừa mua thành 02 phần: 01 phần được K chia nhỏ thành 10 gói, mỗi gói được gói bằng mảnh giấy tráng kim màu trắng và được cho vào trong 01 túi nilon trong suốt có mép cài; phần ma tuý tương đương còn lại, K gói lại bằng túi nilon cũ, cất giấu tất cả vào trong túi quần bên trái đang mặc.
Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, Nguyễn Chí C, đi bộ đến nhà K hỏi mua ma tuý về sử dụng. Thấy K đứng trước cửa nhà, C đưa cho K 2.000.000 đồng để mua Heroine. K nhận tiền và lấy trong túi quần đưa cho C 01 túi nilon, bên trong có 01 phần Heroine đã chia trước đó. C cất giấu ma túy vừa mua được vào trong túi quần rồi đi bộ về nhà.
Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, C lấy túi ma túy đã mua, xẻ một phần ít vào trong mảnh giấy tráng kim màu trắng, gói lại, cho vào túi quần bên trái đang mặc; số ma túy còn lại, C gói lại để trên mặt bàn trong phòng ngủ rồi đi bộ ra ngoài đường, tìm nơi vắng người để sử dụng. Khi đang đi trên trục đường thôn Bắc Tân, xã Thái Ninh thì bị tổ C tác của C an tỉnh và C an xã Hòa An (nay là C an xã Thái Ninh) phát hiện, yêu cầu kiểm tra. C tự nguyện lấy trong túi quần 01 gói Heroine, có khối lượng 0,1294 gam giao nộp. Tổ C tác mời người chứng kiến việc lập biên bản, thu giữ vật chứng và dẫn giải C đến trụ sở C an xã Hòa An lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của C ở thôn Bắc Tân, xã Thái Ninh, tổ C tác thu giữ trên bàn trong phòng ngủ của C 01 túi nilon, bên trong có 1,4938 gam Heroine. Căn cứ tài liệu, vật chứng thu thập, tổ C tác thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Duy K, phát hiện và thu giữ trong túi quần bên trái K đang mặc có 1 túi nilon, bên trong có 10 gói Heroine, có khối lượng là 0,6331 gam và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu trắng (không nắp sim). Khám xét khẩn cấp chỗ ở của K, tổ C tác không thu giữ đồ vật, tài sản gì khác.
Kết luận giám định số 427/KL-KTHS ngày 28/4/2025 của phòng Kỹ thuật Hình sự C an tỉnh Thái Bình (nay là C an tỉnh Hưng Yên) kết luận: Mẫu vật thu giữ của Nguyễn Chí C khi bắt quả tang gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,1294 gam. Mẫu vật thu giữ của Nguyễn Chí C khi khám xét khẩn cấp chỗ ở gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 1,4938 gam. Mẫu vật thu giữ của Nguyễn Duy K gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,6331 gam;
Cáo trạng số 02/CT-VKSĐH ngày 09/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Hưng Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy K về tội “Tội mua bán trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Chí C về tội “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ nguyên toàn bộ cáo trạng đã truy tố đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Duy K. Tuyên bố bị cáo K phạm vào “Tội mua bán trái phép chất ma túy” Phạt K từ 04 (bốn) năm đến từ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, kể từ ngày bắt, tạm giữ 24/4/2025. Phạt bổ sung đối với K từ 7.000.000 đồng – 10.000.0000 đồng. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Chí C, tuyên bố bị cáo C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” phạt bị cáo C mức hình phạt từ 02 (hai) năm 09(chín) tháng đến 03(ba) năm tù, kể từ ngày bắt, tạm giữ 24/4/2025, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo C, ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Tại phiên tòa: Các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo Nguyễn Duy K xác định Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tội mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Nguyễn Chí C xác định cáo trạng truy tố bị cáo về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy ”là đúng pháp luật, vì vậy không trình bày lời bào chữa, cũng không trình bày ý kiến tranh luận về tội danh, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, điều luật áp dụng do Kiểm sát viên đề nghị. Tuy nhiên cả hai bị cáo đều cho rằng mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát áp dụng đối với các bị cáo là quá cao, bị cáo K đề nghị HĐXX xem xét hoàn cảnh của gia đình bị cáo, con bị cáo còn nhỏ mắc bệnh tim đang chờ phẫu thuật đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát tranh luận: Bị cáo K thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy với khối lượng ma túy là 2,2563 gam Heroine, tương đương với ½ khối lượng ma túy cao nhất được quy định của khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự, K cũng có nhân thân xấu đã 02 lần bị kết án trong đó có 01 lần bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma túy mức hình phạt cao nhất theo quy định của khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự là 07 năm tù.
Đối với C, C cũng tàng trữ là 1,6232 gam Heroine tuy chưa có tiền án tiền sự nhưng hiện nay tội phạm ma túy đang gia tăng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình chính trị tại địa phương, quy định của Bộ luật hình sự cũng đã thay đổi theo hướng tăng hình phạt đối với các tội phạm ma túy. Do vậy Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên ý kiến đã đề xuất về hình phạt đối với các bị cáo.
Khi nói lời sau cùng: Các bị cáo K, C đều biết việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật, đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, để bị cáo được sớm trở về với gia đình.
PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi quyết định tố tụng: Các tài liệu chứng cứ do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều tra vụ án đã tuân thủ các quy định của pháp luật. Đó là các tài liệu hợp pháp chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Căn cứ vào các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra C an tỉnh Hưng Yên (trước đây là C an tỉnh Thái Bình), Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Hưng Yên , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ xác định có tội, căn cứ xác định vô tội: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa đúng như lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với Cáo trạng số 02/CT-VKSĐH ngày 09/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Hưng Yên đã truy tố.
Lời khai của các bị cáo còn phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Chí C, do Cơ quan Cảnh sát điều tra C an tỉnh Thái Bình lập hồi 21 giờ 30 phút ngày 23/4/2025, tại C an xã Hòa An; Biên bản bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Duy K, do Cơ quan Cảnh sát điều tra C an tỉnh Thái Bình lập hồi 00 giờ 5 phút ngày 24/4/2025; các Biên bản quản lý, niêm phong đồ vật, tài liệu; Kết luận giám định 427/KL-KTHS ngày 28/4/2025 của phòng Kỹ thuật Hình sự C an tỉnh Thái Bình, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến là ông Giang Văn Ch, và ông Trần Văn D, phù hợp với và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Ngày 23/4/2025, Nguyễn Duy K đã mua 2,2563 gam Heroine, sau đó mang về nhà ở thôn Hải Linh, xã Đông Thái Ninh, tỉnh Hưng Yên chia nhỏ, mục đích bán lại cho người khác để kiếm lời.
Cùng ngày, Nguyễn Chí C đến nhà, mua lại của K 1,6232 gam Heroine, mang về nhà ở thôn Bắc Tân, xã Thái Ninh, tỉnh Hưng Yên tàng trữ để sử dụng thì bị phát hiện.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Duy K đã phạm vào “Tội mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Nguyễn Chí C đã phạm vào tội “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
“Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm C việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Điều 249.Tàng trữ trái phép chất ma túy
1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
....
c. Heroine, cocain, methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR -11có khối lượng từ 0,1gam đến 05 gam;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm C việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.””
[3] Về tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội nhân thân của các bị cáo:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an ninh an toàn xã hội.
Bị cáo K là người có nhân thân xấu, đã 02 lần bị kết án và phải đi cải tạo trong đó 01 lần bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” K đã biết tác hại của ma túy, biết việc mua bán tàng trữ trái phép chất ma túy là bất hợp pháp nhưng sau khi thi hành xong các bản án K không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội đi mua ma túy để bán cho người khác kiếm lời.
Bị cáo C là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, C đã biết tác hại của ma túy biết việc tàng trữ sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn tàng trữ ma túy để sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân.
Vì vậy, việc đưa vụ án ra xét xử là cần thiết và cần áp dụng mét møc ¸n tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, nên đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Nguyễn Duy K, có bố là thương binh, Nguyễn Chí C có mẹ đẻ là người có C với nhà nước được tặng huy chương kháng chiến hạng nhất, nên các bị cáo đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo K phạm tội với mục đích vụ lợi vì vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo K.
Bị cáo C là người lao động tự do không có thu nhập ổn định. Tàng trữ ma túy để sử dụng. Do vậy không nhất thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo C.
[6]Về xử lý vật chứng:
Số ma túy loại Heroine thu giữ của các bị cáo là chất Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo (không lắp sim) quản lý của Nguyễn Duy K, quá trình điều tra xác định là tài sản của chị Tạ Thị Xoan (vợ bị cáo K), không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra C an tỉnh Thái Bình đã trả lại cho chị Xoan là đúng thẩm quyền, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7]Về các vấn đề liên quan:
Trong vụ án này K khai mua ma túy của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ. Do vậy không có căn cứ để điều tra, xử lý.
[8]Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9]Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1.Về tội danh:
1.1 Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy K phạm tội“Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1, 5 Điều 251 điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Duy K.
Xử phạt Nguyễn Duy K 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/4/2025.
Hình phạt bổ sung: Phạt tiền đối với Nguyễn Duy K 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) sung quỹ nhà nước.
1.2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí C đã phạm vào phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Chí C .
Xử phạt Nguyễn Chí C 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/4/2025.
3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự.
3.1. Tịch thu, tiêu hủy 0,0848 gam Heroine còn lại sau giám định do cơ quan điều tra C an tỉnh thu giữ của Nguyễn Chí C khi bắt quả tang và 1,3200 gam Heroine còn lại sau giám định do cơ quan điều tra C an tỉnh thu giữ của Nguyễn Chí C khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của C và toàn bộ bao gói.
3.2. Tịch thu tiêu hủy 0,5496 gam Heroine còn lại sau giám định do cơ quan điều tra C an tỉnh quản lý của Nguyễn Duy K và toàn bộ bao gói.
Các đồ vật trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa C an tỉnh Hưng Yên và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 - Hưng Yên ngày 15/7/2025.
4.Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Nguyễn Duy K và Nguyễn Chí C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, ngày 04/8/2025.
| Nơi nhận: - Các bị cáo; - C an tỉnh Hưng Yên; - VKSND Khu vực 7 – Hưng Yên; - VKSND; TAND tỉnh Hưng Yên; - THADS tỉnh Hưng Yên; - Trại Tạm giam số 02 C an tỉnh Hưng Yên - UBND xã Đông Thái Ninh, tỉnh Hưng Yên - UBND phường Phú Khánh, tỉnh Hưng Yên; - Lưu: Hồ sơ, văn phòng; | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đã ký Hà Thị Nhung |