vanban.org

Bản án 19/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 24/07/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thịnh L, Nguyễn Văn T, Trần Thị H phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thịnh L 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ đi 10 ngày tạm giữ, tạm giam (từ ngày 24/9/2024 -03/10/2024) bằng 30 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ còn phải chấp hành là 11 (Mười một) tháng.Thời điểm chấp hành hình phạt tính từ ngày c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trung T - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thịnh L, Nguyễn Văn T, Trần Thị H phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - HÀ NỘI
------------
Bản án số: 19/2025/HSST
Ngày: 24/7/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lý Thị Tường Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông (bà) Chu Bá Hữu

Ông (bà) Nguyễn Thị Cúc

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng – Cán bộ Toà án nhân dân khu vực 5- Hà Nội.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5- Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Đỗ Hoàng Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 123/2025/HSST ngày 19 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/HSST – QĐ ngày 15 tháng 7 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Trung T Giới tính: Nam

Sinh ngày: 21/9/1981

HKTT và chỗ ở: Số 100 ngõ 68/79/94 đường Nguyễn Văn Linh, tổ 15 phường Long Biên, TP Hà Nội

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Trình độ văn hóa: 12/12

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Họ tên bố: Nguyễn Văn Toản (đã chết)

Họ tên mẹ: Hoàng Thị Mận (đã chết)

Họ tên vợ: Phạm Thị Anh - sinh năm: 1983 (đã ly hôn)

Bị can có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2012

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/9/2024 đến ngày 03/10/2024, hiện áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

2. Họ và tên: Trần Thị N

Giới tính: Nữ

Sinh ngày: 25/8/1987

HKTT và chỗ ở: Số 3/348/86 phố Ngọc Trì, tổ 10 phường Long Biên, TP Hà Nội.

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Trình độ văn hóa: 12/12

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Họ tên bố: Trần Văn Phấn - sinh năm: 1962

Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Cúc - sinh năm: 1958

Họ tên chồng: Trần Văn Quân - sinh năm: 1987

Bị can có 03 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2020

Tiền án, tiền sự: 01 tiền án, Bản án HSST số 38 ngày 03/3/2023, TAND quận Long Biên, Hà Nội xử 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 16 tháng về tội Đánh bạc. Đã nộp án phí HSST 200.000 đồng ngày 24/4/2023. Chưa được xóa án tích.

Lần phạm tội này là tái phạm.

Nhân thân: 01 tiền án, Bản án HSST số 193 ngày 02/8/2017, TAND quận Long Biên, Hà Nội xử 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 40 tháng về tội Đánh bạc. Đã nộp án phí HSST 200.000 đồng ngày 02/8/2017. Bị can đã được xóa án tích.

Bị can bị tạm giữ từ ngày 24/9/2024, tạm giam từ ngày 03/10/2024 đến nay tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố Hà Nội.

3. Họ và tên: Trần Thị L

Giới tính: Nữ

Sinh ngày: 28/12/1971

HKTT và chỗ ở: Số 24 ngách 39/54 phố Ngọc Trì, phường Long Biên, TP Hà Nội.

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Trình độ văn hóa: 9/12

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Họ tên bố: Trần Văn Triệu (đã chết)

Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Thọ - sinh năm: 1940

Họ tên chồng: Hoàng Minh Cường - sinh năm: 1968

Bị can có 02 con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2002

Tiền án, tiền sự: 01 tiền án, Bản án HSST số 38 ngày 03/3/2023, TAND quận Long Biên, Hà Nội xử 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 16 tháng về tội Đánh bạc. Đã nộp án phí HSST 200.000 đồng ngày 16/11/2023. Chưa được xóa án tích.

Lần phạm tội này là tái phạm.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/9/2024, tạm giam từ ngày 03/10/2024 đến nay tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố Hà Nội.

4.. Họ và tên: Hoàng Văn M

Giới tính: Nam

Sinh ngày: 04/4/1982

HKTT và chỗ ở: Số 22 ngách 68/137 đường Nguyễn Văn Linh, tổ 14 phường Long Biên, TP Hà Nội.

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Trình độ văn hóa: 09/12

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Họ tên bố: Hoàng Văn Thoan (đã chết)

Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Phấn - sinh năm: 1935

Họ tên vợ: Đỗ Thị Lan - sinh năm: 1983

Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2009.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: 03 tiền án, 01 tiền sự

- Bản án HSST số 63 ngày 18/3/2003, TAND huyện Gia Lâm, Hà Nội xử 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 24 tháng về tội Trộm cắp tài sản. Đã nộp án phí HSST 50.000 đồng ngày 30/6/2003. Bị can đã được xóa án tích.

- Năm 2006, Công an quận Long Biên, Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản (đã hết thời hiệu).

- Bản án HSST số 75 ngày 08/4/2011, TAND quận Long Biên, Hà Nội xử 10 tháng tù về tội Đánh bạc. Đã nộp án phí HSST 200.000 đồng ngày 06/9/2016. Đối với 2.700.000 đồng tiền phạt sung công quỹ nhà nước, bị can được miễn theo Quyết định đình chỉ thi hành án số 54 ngày 30/9/2016 của Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/10/2011. Bị can đã được xóa án tích.

- Bản án HSST số 272 ngày 09/8/2012, TAND quận Long Biên, Hà Nội xử 15 tháng tù về tội Đánh bạc. Đã nộp án phí HSST 200.000 đồng ngày 09/8/2012. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/8/2013. Bị can đã được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/9/2024, tạm giam từ ngày 03/10/2024 đến nay tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố Hà Nội.

5. Họ và tên: Đỗ Trung K

Giới tính: Nam

Sinh ngày: 01/01/1975

HKTT và chỗ ở: Số 10 ngách 68/177/60 đường Nguyễn Văn Linh, tổ 14 phường Long Biên, TP Hà Nội.

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Trình độ văn hóa: 07/12

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Họ tên bố: Đỗ Kinh Kha (đã chết)

Họ tên mẹ: Ngô Thị Hợi - sinh năm: 1947

Họ tên vợ: Nguyễn Thị Hồng Xiêm - sinh năm: 1982

Bị cáo có 03 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2018

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: 01 tiền án, Bản án HSST số 95 ngày 12/5/2014, TAND quận Long Biên. Hà Nội xử 05 tháng tù treo, thử thách 12 tháng về tội Đánh bạc. Đã nộp án phí HSST 200.000 đồng ngày 21/5/2014. Đã được xóa án tích.

Bị can bị tạm giữ từ ngày 24/9/2024 đến ngày 03/10/2024, hiện áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

6. Họ và tên: Nguyễn Trung K

Giới tính: Nam

Sinh ngày: 26/9/1982

HKTT và chỗ ở: Số 114 ngõ 68/79 Nguyễn Văn Linh, tổ 15 phường Long Biên, TP Hà Nội.

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Trình độ văn hóa: 12/12

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Họ tên bố: Nguyễn Văn Nhị - sinh năm: 1956

Họ tên mẹ: Vũ Thị Ngừng - sinh năm: 1957

Họ tên vợ: Phan Thị Thư - sinh năm: 1984

Bị can có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2007

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: 01 tiền án: Bản án HSST số 117 ngày 25/4/2012, TAND quận Long Biên, Hà Nội xử 06 tháng treo, thử thách 12 tháng về tội Đánh bạc. Đã nộp án phí HSST 200.000 đồng và 3.000.000 đồng tiền phạt sung ngân sách nhà nước. Đã được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/9/2024 đến ngày 03/10/2024, hiện áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

7. Họ và tên: Hoàng Văn T Giới tính: Nam

Sinh ngày: 18/10/1979

HKTT và chỗ ở: Số 5 ngách 68/104 Nguyễn Văn Linh, tổ 15 phường Long Biên, TP Hà Nội.

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Trình độ văn hóa: 12/12

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Họ tên bố: Hoàng Văn Vượng (đã chết)

Họ tên mẹ: Đỗ Thị Thường (đã chết)

Họ tên vợ: Bùi Thị Thu Hà - sinh năm: 1980

Bị can có 02 con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2010

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: 01 tiền sự: Ngày 24/3/2023, Công an quận Long Biên, Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích (đã hết thời hiệu).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/9/2024 đến ngày 03/10/2024, hiện áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

8. Họ và tên: Nguyễn Thịnh L Giới tính: Nam

Sinh ngày: 04/3/1976

HKTT và chỗ ở: Đội 4 thôn Quảng Yên, xã Quốc Oai, TP Hà Nội.

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Trình độ văn hóa: 07/12

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Họ tên bố: Nguyễn Thịnh Khúc (đã chết)

Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Lựu (đã chết)

Họ tên vợ: Phùng Thị Chính - sinh năm: 1982

Bị can có 02 con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2010

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/9/2024 đến ngày 03/10/2024, hiện áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

9. Họ và tên: Nguyễn Văn T

Giới tính: Nam

Sinh ngày: 01/02/1973

HKTT và chỗ ở: Số 75 ngõ 68 ngách 79 hẻm 73 Nguyễn Văn Linh, tổ 15 phường Long Biên, Hà Nội.

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Trình độ văn hóa: 07/12

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Họ tên bố: Nguyễn Văn Toán (đã chết)

Họ tên mẹ: Đỗ Thị Dục - sinh năm: 1936

Họ tên vợ: Nguyễn Thị Huế - sinh năm: 1976

Bị can có 02 con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2004

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/9/2024 đến ngày 03/10/2024, hiện áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

10. Họ và tên: Trần Thị H

Giới tính: Nữ

Sinh ngày: 19/9/1976

HKTT và chỗ ở: Số 7 ngõ 101/7 phố Trạm, tổ 12 phường Long Biên, TP Hà Nội.

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Thiên Chúa

Trình độ văn hóa: 12/12

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Họ tên bố: Trần Văn Triệu (đã chết)

Họ tên mẹ: Trần Thị Thọ - sinh năm: 1940

Họ tên chồng: Nguyễn Hùng Tráng - sinh năm: 1969

Bị can có 01 con sinh năm 2005.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/9/2024 đến ngày 03/10/2024, hiện áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

( Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 00 giờ 30 phút ngày 24/9/2024, tổ công tác đội ĐTTH Công an quận Long Biên phối hợp cùng Công an phường Thạch Bàn làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát địa bàn đến nhà số 100 ngách 68/79/94 Nguyễn Văn Linh, phường Thạch Bàn, Long Biên, Hà Nội phát hiện tại phòng tầng 1 có 09 đối tượng gồm: Trần Thị H, Trần Thị L, Trần Thị N, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thịnh L, Đỗ Trung K, Hoàng Văn M, Nguyễn Trung K và Hoàng Văn T đang có hành vi đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh Liêng.

Tổ công tác thu giữ tang vật gồm: 01 bộ bài tây 52 lá; số tiền trên chiếu bạc là: 6.120.000 đồng (Sáu triệu một trăm hai mươi nghìn đồng); số tiền thu ngoài sân sát cửa sổ là: 3.570.000 đồng (Ba triệu năm trăm bảy mươi nghìn đồng).

Cơ quan điều tra thu giữ trên người của các đối tượng:

- Của Hoàng Văn M: số tiền 1.500.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone 11 màu tím đã qua sử dụng.

- Của Hoàng Văn T: số tiền 940.000 đồng; 01 điện thoại di động Realme C30s màu đen đã qua sử dụng.

- Của Nguyễn Trung K: số tiền 1.090.000 đồng; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A30 màu xanh đã qua sử dụng; 01 ví da.

- Của Đỗ Trung K: số tiền 2.740.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone X màu vàng đã qua sử dụng.

- Của Trần Thị N: số tiền 1.120.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone 6s màu xám đã qua sử dụng.

- Của Nguyễn Văn T: số tiền 285.000 đồng; 01 điện thoại di động Samsung A12 màu xanh đã qua sử dụng.

- Của Nguyễn Trung T: số tiền 200.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone SE màu trắng đã qua sử dụng.

- Của Trần Thị L: 01 điện thoại di động Nokia màu đen đã qua sử dụng.

- Của Nguyễn Thịnh L: 01 điện thoại di động Samsung J2 màu đen đã qua sử dụng.

- Của Trần Thị H: 01 điện thoại di động Iphone 13 màu xanh đen đã qua sử dụng.

Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đưa các đối tượng cùng người có liên quan và tang vật về trụ sở để làm rõ.

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã điều tra làm rõ:

Khoảng 20h30 phút ngày 23/9/2024, Nguyễn Thịnh L, Trần Thị N, Trần Thị L, Đỗ Trung K đến nhà Nguyễn Trung T tại địa chỉ: Số 100/68/79/94 Nguyễn Văn Linh, phường Thạch Bản, Long Biên, Hà Nội để ăn cúng tuần bố đẻ của Tuyến. Sau đó, Lộc, Nga, Lan và Kiên cùng rủ nhau tham gia đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh Liêng tại tầng 1 nhà Tuyến. Tuyến đồng ý cho các đối tượng trên đánh bạc. Tại đây, Tuyến đã chuẩn bị sẵn 01 bộ bài tây gồm 52 lá để các đối tượng trên sử dụng đánh bạc. Sau đó lần lượt Lê Văn Trung (SN: 1983, HKTT: Tổ 4 phường Thạch Bàn, Long Biên, Hà Nội), Nguyễn Trung K, Hoàng Văn T, Trần Thị H đến tham gia đánh bạc. Trong quá trình đánh bạc, Lộc, Nga, Lan và Hà mỗi người góp 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) tiền phế để ở góc chiếu mục đích để Tuyến cho phép các đối tượng đánh bạc tại nhà Tuyến và dọn dẹp sau khi đánh bạc xong. Tuyến cầm số tiền này cất vào ví, rồi đi ra phòng khách ngồi uống nước. Trung chơi được 02 ván thì nghỉ không chơi và ra ngoài ngồi nói chuyện cùng Tuyến. Đến khoảng 23h45’ cùng ngày thì Nguyễn Văn T, Hoàng Văn M đến nhà Tuyến chơi, thấy các đối tượng đang đánh bạc nên Thật, Mười cũng tham gia đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền.

Các đối tượng đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh Liêng, và thống nhất cách chơi như sau: Các đối tượng sử dụng bộ bài tây gồm 52 lá bài để đánh bạc. Khi bắt đầu ván chơi, mỗi người đặt 10.000 đồng vào giữa chiếu (gọi là gà), người chia bài sẽ cho mỗi người 03 lá bài. Lượt đầu tiên, người chia sẽ đặt thêm tiền vào giữa chiếu 20.000 đồng (gọi là tố), người chơi lần lượt theo chiều kim đồng hồ sẽ đặt theo 20.000 đồng hoặc cao hơn nhưng không quá 100.000 đồng. Nếu ai thấy tổng điểm bài trên tay thấp thì không theo và bỏ bài bằng cách úp bài xuống chiếu. Nếu ai thấy tổng điểm bài trên tay cao thì đặt tiền theo hoặc tố cao hơn bằng cách đặt thêm tiền. Đến khi không có ai đặt tiền cao hơn thì dừng và tính điểm 03 lá bài cầm trên tay.

Cách tính điểm 03 lá bài: Nếu 03 lá bài trên tay có số giống nhau thì gọi là Sáp (ví dụ 02 cơ, 02 rô, 02 tép). 03 quân bài liên tiếp gọi là Liêng (ví dụ: A,2,3 là liêng thấp nhất; Q,K,A là liêng cao nhất), 03 quân bài J,Q,K gọi là Ảnh. 03 quân bài không tạo thành các bộ Sáp, Liêng, Ảnh gọi là Điểm. Các đối tượng quy ước bộ Sáp có giá trị cao nhất, sau đó là bộ Liêng và Ảnh, cuối cùng là Điểm. Tổng điểm 03 lá bài trên tay được tính bằng cách cộng số trên bài (A tương đương 01 điểm; 02 tương đương 02 điểm;...; 10,J,Q,K tương đương 0 điểm). Ai có số điểm cao hơn sẽ thắng. Nếu hai người bằng điểm nhau thì so sánh chất và thứ tự của các lá bài, chất lá bài từ thấp đến cao là Tép<Bích<Cơ<Rô, thứ tự các lá bài từ thấp đến cao trong liêng là 2<3<4<5<6<7<8<9<10<J<Q<K<A. Người thắng sẽ được lấy tiền trong gà và thắng hết tiền đã tố trong lượt chơi. Người thắng sẽ chia bài lượt tiếp theo.

Đến khoảng 0h30 phút ngày 24/9/2024, khi Hà, Lan, Nga, Thúy, Thật, Lộc, Mười, Nguyễn Trung K, Đỗ Trung K đang đánh bạc thì bị Cơ quan Công an kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, Lan và một số đối tượng (không xác định được) đã lấy một phần tiền trên chiếu bạc ném qua cửa sổ nơi các đối tượng đang ngồi đánh bạc thì bị Cơ quan công an phát hiện, thu giữ được 3.570.000 đồng. Kiểm tra trên chiếu bạc, Cơ quan công an thu giữ 6.120.000 đồng.

Quá trình điều tra, các bị can khai số tiền mang theo để đánh bạc, cụ thể:

Đỗ Trung K mang theo 2.740.000 đồng, bỏ ra 400.000 đồng để đánh bạc và 50.000 đồng tiền phế, khi đánh bạc thắng thì Kiên cất vào trong người, thua thì bỏ ra đánh tiếp. Khi bị cơ quan điều tra phát hiện bắt giữ, Kiên bị thu giữ trên người 2.740.000 đồng. Nếu thua hết số tiền bỏ ra, Kiên sẽ sử dụng 2.740.000 đồng để tiếp tục đánh bạc.

Trần Thị L mang theo 500.000 đồng, bỏ ra 450.000 đồng để đánh bạc và 50.000 đồng tiền phế. Khi bị cơ quan điều tra phát hiện bắt giữ, Lan thua hết tiền.

Trần Thị N mang theo 1.320.000 đồng, bỏ ra 200.000 đồng đánh bạc và 50.000 đồng tiền phế. Khi bị cơ quan điều tra phát hiện bắt giữ, Nga đang thua và bị thu trên chiếu 120.000 đồng. Nếu thua hết số tiền bỏ ra, Nga sẽ sử dụng 1.120.000 đồng trên người để tiếp tục đánh bạc.

Nguyễn Thịnh L mang theo 260.000 đồng, bỏ ra 210.000 đồng đánh bạc và 50.000 đồng tiền phế. Khi bị cơ quan điều tra phát hiện bắt giữ, Lộc còn 25.000 đồng trên chiếu, thua 235.000 đồng.

Nguyễn Trung K mang theo 1.590.000 đồng, bỏ ra 500.000 đồng để đánh bạc. Khi bị cơ quan điều tra phát hiện bắt giữ, Kiên còn 200.000 đồng trên chiếu, thua 300.000 đồng. Nếu thua hết số tiền bỏ ra, Kiên sẽ sử dụng 1.090.000 đồng trên người để tiếp tục đánh bạc.

Hoàng Văn T mang theo 980.000 đồng và bỏ ra 120.000 đồng để đánh bạc, khi đánh bạc thắng thì Thúy cất vào trong người, thua thì bỏ ra đánh tiếp. Khi bị cơ quan điều tra phát hiện bắt giữ, Thúy bị thua hết tiền trên chiếu. Nếu không bị bắt giữ, Thúy sẽ sử dụng 940.000 đồng trên người để tiếp tục đánh bạc.

Trần Thị H mang theo 700.000 đồng, bỏ ra toàn bộ tiền để đánh bạc. Khi bị cơ quan điều tra phát hiện bắt giữ, Hà đang thua và đã ném 400.000 đồng trên chiếu ra ngoài cửa sổ.

Nguyễn Văn T mang theo 545.000 đồng, bỏ ra 260.000 đồng để đánh bạc. Khi bị cơ quan điều tra phát hiện bắt giữ, Thật bị thua hết tiền bỏ ra. Nếu không bị bắt giữ, Thật sẽ sử dụng 285.000 đồng trên người để tiếp tục đánh bạc.

Hoàng Văn M mang theo 1.760.000 đồng, bỏ ra 260.000 đồng để đánh bạc. Khi bị cơ quan điều tra phát hiện bắt giữ, Mười đang hòa và bị thu trên chiếu 260.000 đồng. Nếu thua hết số tiền bỏ ra, Mười sẽ sử dụng 1.500.000 đồng trên người để tiếp tục đánh bạc.

Tổng số tiền đánh bạc các bị can phải chịu trách nhiệm hình sự là 17.365.000 đồng (Mười bảy triệu ba trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).

Tại Cơ quan điều tra, Trần Thị H, Trần Thị L, Trần Thị N, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thịnh L, Đỗ Trung K, Hoàng Văn M, Nguyễn Trung K, Hoàng Văn Thủy và Nguyễn Trung T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung trên. Lời khai của các bị can phù hợp với nhau và với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đối với Lê Văn Trung, các bị can Lộc, Lan và Nga khai nhận Trung có tham gia đánh bạc 02 ván với số tiền 30.000 đồng thì nghỉ không chơi nữa. Cả ba tiếp tục chơi rồi lần lượt Nguyễn Trung K, Thúy, Hà, Thật, Mười đến tham gia đánh bạc. Tại Cơ quan điều tra, Lê Văn Trung khai nhận có tham gia đánh bạc 02 ván với số tiền 30.000 đồng, do trong người chỉ còn 17.000 đồng không đủ tiền để đánh bạc tiếp nên Trung dừng lại và ngồi xem các đối tượng đánh bạc. Lời khai của Trung phù hợp với lời khai của Lan, Nga, Lộc. Căn cứ lời khai của Lan, Nga, Lộc và Trung xác định số tiền đánh bạc tại thời điểm Trung tham gia là 2.110.000 đồng (Hai triệu một trăm mười nghìn đồng) nên hành vi của Trung không cấu thành tội Đánh bạc theo Khoản 1 Điều 321 BLHS. Công an phường Thạch Bàn, Long Biên, Hà Nội ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Văn Trung về hành vi đánh bạc trái phép theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chình phủ, phạt tiền 350.000 đồng.

Đối với địa điểm các bị can sử dụng để đánh bạc là ngôi nhà tại địa chỉ: Số 100/68/79/94 đường Nguyễn Văn Linh, phường Thạch Bàn, Long Biên, Hà Nội đứng tên sở hữu của Nguyễn Tiến Đức (SN: 2005) và Phạm Thị Anh (SN: 1983) - là con trai và vợ cũ của Nguyễn Trung T, Tuyến và chị Phạm Thị Anh đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 93 ngày 20/5/2022 của TAND quận Long Biên, Hà Nội. Tuyến thuê nhà sinh sống tại địa chỉ: Phòng 104 P5 Khu đô thị Việt Hưng, phường Giang Biên, Long Biên, Hà Nội nhưng không đăng ký tạm trú, tạm vắng. Tuy nhiên do chị Phạm Thị Anh thường xuyên đi du lịch tại Australia, Đức đi học không có ở nhà nên Tuyến thường xuyên về nhà để trông nom và dạy dỗ con thứ hai là Nguyễn Hà Lâm (SN: 25/3/2012, 12 tuổi 05 tháng 29 ngày). Ngày 23/9/2024 là ngày cúng tuần của bố đẻ Tuyến nên Tuyến về nhà số 100/68/79/94 đường Nguyễn Văn Linh sử dụng để tổ chức cỗ cho họ hàng ăn uống. Cơ quan điều tra xác định Tuyến là người quản lý, sử dụng ngôi nhà và dùng làm địa điểm cho các đối tượng đánh bạc. Thời điểm này chị Phạm Thị Anh và anh Nguyễn Tiến Đức không có mặt ở nhà nên không biết việc Tuyến sử dụng nhà cho các đối tượng đánh bạc. Lời khai của chị Anh và anh Đức phù hợp với lời khai của các bị can, với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý chị Phạm Thị Anh và anh Nguyễn Tiến Đức.

Đối với Nguyễn Trung T không tham gia đánh bạc nhưng đã chuẩn bị bài, sử dụng nhà do mình đang quản lý và có thu phế để 09 bị can đánh bạc với số tiền đánh bạc phải chịu trách nhiệm hình sự là 17.365.000 đồng. Do đó Tuyến phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm về tội Đánh bạc.

Đối với 01 bộ bài tây 52 lá và số tiền 17.565.000 đồng, quá trình điều tra xác định các bị can sử dụng vào việc đánh bạc. Chuyển Tòa án xem xét giải quyết.

Đối với 10 chiếc điện thoại di động thu giữ của các bị can và 01 ví da thu giữ của Nguyễn Trung K, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội. Chuyển Tòa án xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận tại phiên tòa như sau: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa thấy rằng:

Hành vi của các bị cáo Trần Thị H, Trần Thị L, Trần Thị N, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thịnh L, Đỗ Trung K, Hoàng Văn M, Nguyễn Trung K, Hoàng Văn Thủy và Nguyễn Trung T đủ yếu tố cấu thành tội: “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tình tiết giảm nhẹ:

- Các bị cáo Nguyễn Trung T, Nguyễn Thịnh L, Nguyễn Văn T, Trần Thị H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 BLHS.

- Các bị cáo Trần Thị N, Trần Thị L, Hoàng Văn M, Đỗ Trung K, Nguyễn Trung K, Hoàng Văn T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS. Các bị cáo Nguyễn Trung K, Đỗ Trung K có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính duy nhất, bị cáo Nguyễn Trung K phải nuôi bố mẹ già yếu, em trai bị bệnh thần thần phân liệt; bị cáo Hoàng Văn Thuý bị bệnh hoại tử xương hông hai bên, gia đình hoàn cảnh khó khăn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Trần Thị N, Trần Thị L tái phạm quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 BLHS.

- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T:8-10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 - 20 tháng

- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm h khoản 1 Điều 52. Xử phạt các bị cáo Trần Thị N, Trần Thị L mỗi bị cáo từ 10 – 12 tháng tù.

- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 BLHS xử phạt bị cáo Hoàng Văn M từ 8-10 tháng tù.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 BLHS, xử phạt các bị cáo Đỗ Trung K, Nguyễn Trung K, Hoàng Văn Thuý từ 8-10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16-20 tháng.

- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 BLHS, xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Thịnh L, Trần Thị H 8-10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16-20 tháng.

Giao các bị cáo được hưởng án treo cho UBND nơi cư trú giám sát, giáo dục.

- Hình phạt phụ: Không áp dụng

*Tang vật: Đề nghị áp dụng Điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS đề nghị:

Tịch thu sung công số tiền 17.565.000đ là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc.

Tịch thu tiêu huỷ 01 bộ bài 52 lá.

-Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn M 01 điện thoại Iphone màu tím

- Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn Thuý 01 điện thoại di động Realme C30S màu đen

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trung K 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A30 màu xanh; 01 ví da

- Trả lại cho bị cáo Đỗ Trung K 01 điện thoại di động Iphone X màu vàng

- Trả lại cho bị cáo Trần Thị N 01 điện thoại di động Iphone 6s màu xám

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động Samsung A12 màu xanh

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trung T 01 điện thoại di động Iphone SE màu trắng

- Trả lại cho bị cáo Trần Thị L 01 điện thoại di động Nokia màu đen

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thịnh L 01 điện thoại Samsung J2 màu đen

- Trả lại cho bị cáo Trần Thị H 01 điện thoại di động Iphone 13 màu xanh đen.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ điều tra; biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 20h30’ ngày 23/9/2024, tại tổ 15 phường Thạch Bàn, Long Biên, Hà Nội, Nguyễn Trung T có hành vi cung cấp phương tiện (bài lá), có thu phế và sử dụng nhà thuộc quản lý của mình cho các bị cáo Trần Thị N, Trần Thị L, Hoàng Văn M, Đỗ Trung K, Nguyễn Trung K, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thịnh L, Hoàng Văn T và Trần Thị H đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh Liêng. Tổng số tiền đánh bạc các bị can phải chịu trách nhiệm hình sự là 17.365.000 đồng (Mười bảy triệu ba trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).

Hành vi của các bị cáo Trần Thị H, Trần Thị L, Trần Thị N, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thịnh L, Đỗ Trung K, Hoàng Văn M, Nguyễn Trung K, Hoàng Văn Thủy và Nguyễn Trung T như đã nêu trên đủ yếu tố cấu thành tội “ Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo Tuyến không tham gia đánh bạc nhưng đã chuẩn bị bài, sử dụng căn nhà do mình quản lý và có thu phế để cho các bị cáo đánh bạc, các bị cáo khác đều giữ vai trò thực hành tích cực.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS

- Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Trần Thị N, Trần Thị L phạm tội lần này là tái phạm; Các bị cáo khác không có tình tiết tăng nặng.

- Tình tiết giảm nhẹ:

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải.

Các bị cáo Nguyễn Trung T, Nguyễn Thịnh L, Nguyễn Văn T, Trần Thị H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 BLHS.

- Các bị cáo Trần Thị N, Trần Thị L, Hoàng Văn M, Đỗ Trung K, Nguyễn Trung K, Hoàng Văn T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS. Các bị cáo Nguyễn Trung K, Đỗ Trung K có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính duy nhất, bị cáo Nguyễn Trung K phải nuôi bố mẹ già yếu, em trai bị bệnh thần thần phân liệt; bị cáo Hoàng Văn Thuý bị bệnh hoại tử xương hông hai bên, gia đình hoàn cảnh khó khăn, bị cáo Hoàng Văn M có bố đẻ là người có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Xét các bị cáo Nguyễn Thịnh L, Nguyễn Văn T, Trần Thị H phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, ăn năn hối cải, số tiền các bị cáo tham gia đánh bạc không lớn, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 BLHS nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội mà tự cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ giáo dục các bị cáo là phù hợp với Điều 36 bộ luật hình sự. Do các bị cáo đều không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng khấu trừ một phần thu nhập là phù hợp.

Bị cáo Nguyễn Trung T có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1; các bị cáo Đỗ Trung K, Nguyễn Trung K, Hoàng Văn Thuý có tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1và khoản 2 Điều 51 BLHS nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội mà cho các bị cáo cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện và không ảnh hưởng đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm phù hợp với Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQQ-HĐTP ngày 15/5/2018; Nghị quyết số 01/2022/NQ –HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung:

Xét các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu sung công số tiền 17.565.000đ là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc.

Tịch thu tiêu huỷ 01 bộ bài 52 lá.

- Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn M 01 điện thoại Iphone màu tím

- Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn Thuý 01 điện thoại di động Realme C30S màu đen

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trung K 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A30 màu xanh; 01 ví da

- Trả lại cho bị cáo Đỗ Trung K 01 điện thoại di động Iphone X màu vàng

- Trả lại cho bị cáo Trần Thị N 01 điện thoại di động Iphone 6s màu xám

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động Samsung A12 màu xanh

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trung T 01 điện thoại di động Iphone SE màu trắng

- Trả lại cho bị cáo Trần Thị L 01 điện thoại di động Nokia màu đen

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thịnh L 01 điện thoại Samsung J2 màu đen

- Trả lại cho bị cáo Trần Thị H 01 điện thoại di động Iphone 13 màu xanh đen

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hà Nội đề nghị về hình phạt chính. Không áp dụng hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thịnh L, Nguyễn Văn T, Trần Thị H phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thịnh L 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ đi 10 ngày tạm giữ, tạm giam (từ ngày 24/9/2024 -03/10/2024) bằng 30 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ còn phải chấp hành là 11 (Mười một) tháng.Thời điểm chấp hành hình phạt tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự Công an Thành phố Hà Nội nhận được quyết định thi hành án.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ”, được trừ đi 10 ngày tạm giữ, tạm giam (từ ngày 24/9/2024 -03/10/2024) bằng 30 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ còn phải chấp hành là 11 (Mười một) tháng.Thời điểm chấp hành hình phạt tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự Công an Thành phố Hà Nội nhận được quyết định thi hành án.

Xử phạt: Bị cáo Trần Thị H 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ được trừ đi 10 ngày tạm giữ, tạm giam (từ ngày 24/9/2024 -03/10/2024) bằng 30 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ còn phải chấp hành là 11 (Mười một) tháng.Thời điểm chấp hành hình phạt tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự Công an Thành phố Hà Nội nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Nguyễn Thịnh L cho Uỷ ban nhân dân xã Quốc Oai, TP Hà Nội và gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Giao các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Thị H cho Uỷ ban nhân dân phường Long Biên, TP Hà Nội và gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trung T 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao.

Tuyên bố các bị cáo Đỗ Trung K, Nguyễn Trung K, Hoàng Văn Thuý phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Trung K 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 ( Hai mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trung K 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 ( Hai mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn Thuý 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 ( Hai mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Nguyễn Trung T, Đỗ Trung K, Nguyễn Trung K, Hoàng Văn Thuý cho Uỷ ban nhân dân phường Long Biên, TP Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách..

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời hạn thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn M phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn M 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù bằng thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/9/2024 đến ngày 24/7/2025. Trả tự do cho các bị cáo tại phiên toà nếu không bị tạm giam về một tội phạm khác:

Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố các bị cáo Trần Thị N, Trần Thị L phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Thị N 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù bằng thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/9/2024 đến ngày 24/7/2025. Trả tự do cho bị cáo tại phiên toà nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác:

Xử phạt: Bị cáo Trần Thị L 10 (Mười) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù bằng thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/9/2024 đến ngày 24/7/2025. Trả tự do cho bị cáo tại phiên toà nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu sung công số tiền 17.565.000đ là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc.

Tịch thu tiêu huỷ 01 bộ bài 52 lá.

- Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn M 01 điện thoại Iphone màu tím

- Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn Thuý 01 điện thoại di động Realme C30S màu đen

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trung K 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A30 màu xanh; 01 ví da

- Trả lại cho bị cáo Đỗ Trung K 01 điện thoại di động Iphone X màu vàng

- Trả lại cho bị cáo Trần Thị N 01 điện thoại di động Iphone 6s màu xám

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động Samsung A12 màu xanh

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trung T 01 điện thoại di động Iphone SE màu trắng

- Trả lại cho bị cáo Trần Thị L 01 điện thoại di động Nokia màu đen

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thịnh L 01 điện thoại Samsung J2 màu đen

- Trả lại cho bị cáo Trần Thị H 01 điện thoại di động Iphone 13 màu xanh đen

Vật chứng hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/6/2025 tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Long Biên (nay là Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 5- Hà Nội).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2006 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Nguyễn Trung T, Trần Thị N, Trần Thị L, Hoàng Văn M, Đỗ Trung K, Nguyễn Trung K, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thịnh L, Hoàng Văn T và Trần Thị H mỗi người phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Án xử công khai sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ