vanban.org

Bản án 19/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lò Văn B 01 năm 02 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 17/4/2025). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn B tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự số 86/…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:19/2025/HS-ST
Ngày: 05/8/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quàng Văn Minh và bà Nguyễn Thị Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Điện Biên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn B, sinh ngày 18 tháng 6 năm 1992, tại Điện Biên; Nơi cư trú: Bản B, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (nay là bản B, phường M, tỉnh Điện Biên); nghề nghiệp: Lao động tư do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn K, sinh năm: 1964 và bà Quàng Thị D, sinh năm: 1965; có vợ là Lò Thị T, sinh năm: 1996; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án: không; tiền sự: không; Nhân thân: Chưa bị kết án và chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/4/2025 đến ngày 26/4/2025 bị tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 17/4/2025, Lò Văn B đi bộ từ nhà ở bản B, xã T đến khu vực bản B, xã mục đích tìm mua Heroine để sử dụng. Tại đây, B gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ) 01 gói Heroine với giá 50.000 đồng. Mua xong, B cất gói Heroine vào túi quần bên trái đang mặc và đi bộ về nhà. Hồi 08 giờ 50 phút cùng ngày, khi B đang đi bộ trên đường thuộc khu vực bản B thì bị tổ công tác Công an xã T phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại túi quần bên trái B đang mặc 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định ngày 17/4/2025 và Kết luận giám định số: 329/KL-KTHS ngày 23/4/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Vật chứng gửi giám định thu giữ của Lò Văn B có khối lượng 0,15 gam là chất ma túy: Loại Heroine.

Cáo trạng số 01/CT-VKSKV2 ngày 10/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn B về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lò Văn B về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lò Văn B từ 14 tháng đến 17 tháng tù; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,12 gam Heroine hoàn lại sau khi giám định, 01 mảnh giấy bạc màu vàng cùng 01 vỏ phong bì thư niêm phong gói vật chứng thu giữ của Lò Văn B; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không bào chữa về hành vi, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Xét hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Hồi 08 giờ 50 phút ngày 17/4/2025, tại khu vực đường thuộc bản B, khi đang có hành vi cất giấu trái phép 01 gói ma túy trong túi quần đang mặc trên người, mục đích để bản thân sử dụng thì bị cáo đã bị tổ công tác Công an xã T phát hiện, bắt quả tang. Qua cân xác định có khối lượng là 0,15 gam.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung Cáo trạng và và hoàn toàn phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 09 giờ 05 phút ngày 17/4/2025, Biên bản niêm phong đồ vật, vật chứng bị tạm giữ hồi 10 giờ 05 phút ngày 17/4/2025; phù hợp với Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ căn cứ để xác định vào ngày 17/4/2025, bị cáo Lò Văn B đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,15 gam Heroine. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp nên đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự:

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

......

c. Heroine,Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, bị cáo không bị oan sai.

. Xét tính chất hành vi, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi tàng trữ trái phép 0,15 gam Heroine của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp nghiêm trọng. Xuất phát từ việc nghiện chất ma túy nên mua tàng trữ sử dụng.

Xét nhân thân thấy rằng, bị cáo sinh ra và lớn lên tại Điện Biên, được gia đình nuôi ăn học đến lớp 9/12 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình hiện đã lập gia đình riêng, bị cáo nghiện ma túy từ năm 2023 đến nay do đua đòi bè bạn sử dụng, chưa bị kết án và chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

. Về hình phạt:

Hình phạt chính: Từ phân tích về hành vi phạm tội, tính chất hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử chấp nhận mức đề xuất của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.

Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, nghề nghiệp của bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Vì vậy, đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ để chấp nhận.

Do hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Lò Văn B xảy ra trước ngày 01/7/2025 nên áp dụng mức hình phạt theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015( sửa đổi năm 2017) mà không áp dụng quy định Luật số 86/2025/QH 15 ngày 25/6/2025 luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự quy định sửa đổi, bổ sung Điều 249 về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” đối với bị cáo Lò Văn B.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về vật chứng vụ án: Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, vật chứng đã thu giữ của bị cáo cần xử lý như sau:

- Đối với 0,12 gam Heroine được hoàn lại sau khi giám định, đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 mảnh giấy bạc màu vàng là vỏ gói ban đầu của gói vật chứng thu giữ nghi ma tuý của Lò Văn B và 01 vỏ phong bì thư niêm phong gói vật chứng thu giữ của Lò Văn B vào ngày 17/4/2025, là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự và điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

. Về các vấn đề khác trong vụ án: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo khai mua Heroine của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có đủ cơ sở để điều tra làm rõ, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Áp dụng c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lò Văn B 01 năm 02 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 17/4/2025).

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

- 0,12 gam Heroine ( đã trừ giám định) .

- 01 mảnh giấy bạc màu vàng và 01 vỏ phong bì thư niêm phong gói vật chứng thu giữ của Lò Văn B vào ngày 17/4/2025.

Vật chứng trên đã được niêm phong và bàn giao theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15 giờ 10 phút ngày 10/7/2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên và Phòng thi hành án dân sự khu vực 2, tỉnh Điện Biên).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự và điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc Bị cáo phải chịu 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ( sửa đổi bổ sung năm 2017), bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 05/8/2025).

Cỡ chữ