- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Minh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và mức hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2025/HSST Ngày 08-9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CAO BẰNG:
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Kim Huệ
Ông Trịnh Văn Phương
- Thư ký phiên toà: Bà Nông Triệu Bảo Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng tham gia phiên toà: Ông Hoàng Trường Long - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm – Phòng xét xử Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng, điểm cầu thành phần – Phòng hỏi cung số 1, phân trại tạm giam khu vực thành phố C xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2025/HSST ngày 19 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo:
Nông Minh T sinh ngày: 20 tháng 02 năm 1984 tại tỉnh Cao Bằng.
Nơi cư trú: tổ dân phố H, phường T, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: không nghề; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Quảng H (đã chết) và bà Trần Ái M, sinh năm 1960; có vợ là Bế Thị T1, sinh năm 1985 và 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không.
Đặc điểm nhân thân:
Năm 2005 bị Ủy ban nhân dân tỉnh C quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 24 tháng;
Năm 2011 bị Công an thị xã C xử phạt vi phạm hành chính về hành vây Gây thiệt hại đến tài sản của người khác;
Ngày 04/7/2012 bị Công an phường H, thị xã C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản;
Ngày 25/12/2012 bị Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2025, hiện nay đang giam tại phân trại tạm giam khu vực thành phố C, tỉnh Cao Bằng; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Văn G; sinh năm 1987; trú tại: tổ dân phố H, phường T, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 00 phút ngày 23/4/2025 tổ công tác Công an phường N (nay là phường N) đang tuần tra, kiểm soát địa bàn thuộc khu vực tổ A, phường N, thành phố C (nay là tổ dân phố A, phường N), tỉnh Cao Bằng phát hiện Nông Minh T (sinh năm 1984, trú tại: tổ dân phố H, phường T, tỉnh Cao Bằng) điều khiển xe máy điện đi từ hướng cầu treo phường N lên đường P thuộc khu vực tổ dân phố A, phường N có biểu hiện nghi vấn hoạt động phạm tội về ma túy nên tiến hành kiểm tra, phát hiện, thu giữ: 01 (Một) gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột và 01 (Một) bơm kim tiêm chưa qua sử dụng. Nông Minh T khai nhận: số chất bột lẫn cục màu trắng bị thu giữ là Heroine của T mua để sử dụng.
Ngày 24/4/2025 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh C mở niêm phong, cân xác định khối lượng tang vật thu giữ của Nông Minh T có tổng khối lượng 0,1750g (Không phẩy một bảy năm không gam).
Bản kết luận giám định số 214/KL-KTHS ngày 30/4/2025 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H).
Quá trình điều tra và tại phiên toà Nông Minh T khai nhận: khoảng 16 giờ 20 phút ngày 23/4/2025 T điều khiển xe máy điện nhãn hiệu Anbico mượn của Trần Văn G (sinh năm 1987; trú tại: tổ dân phố H, phường T, tỉnh Cao Bằng) đi đến khu vực Chợ X thuộc phường T, tỉnh Cao Bằng tìm mua ma tuý. Tại đây, T gặp một người đàn ông không quen biết khoảng 45 tuổi có đặc điểm giống người nghiện nên hỏi mua ma túy với số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), người đàn ông nhận tiền rồi đi đâu đó khoảng 10 phút quay lại đưa cho T 01 (Một) gói giấy bạc màu vàng, bên trong chứa Heroine. Sau khi mua được ma tuý, T đi đến một hiệu thuốc ở khu vực chợ xanh mua 01 (Một) bơm kim tiêm và 01 (Một) lọ nước cất rồi điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng, khi đi đến khu vực tổ A, phường N, thành phố C thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang.
Bản cáo trạng số 16/CT-VKSKV1 ngày 19/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành khu vực 1 - Cao Bằng quyết định truy tố bị cáo Nông Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Văn G khai: ông là hàng xóm của bị cáo, ngày 23/4/2024 bị cáo mượn chiếc xe điện của ông để đi gửi đồ, việc bị cáo sử dụng chiếc xe để đi mua ma tuý ông không biết, ngày 26/6/2025 ông đã được trả lại chiếc xe nên không có ý kiến gì thêm.
Trong phần tranh luận tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng giữ nguyên quyết định truy tố và trình bày quan điểm về nguyên nhân phạm tội, hướng giải quyết vụ án như sau: bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ ma túy là vật cấm tàng trữ, lưu hành nhưng để phục vụ nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã có 3 tiền sự và 01 tiền án về tội phạm ma tuý mặc dù đã được xoá án tích nhưng qua đó thể hiện thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo nên cần xử lý nghiêm khắc. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, nên đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự tuyên bố Nông Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo từ 15 năm đến 18 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy và các vật chứng bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
Về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo nhất trí với kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1
- Cao Bằng về tội danh, hành vi phạm tội, mức hình phạt và quan điểm xử lý vật chứng nên không có ý kiến tranh luận.
Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo Nông Minh T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Cụ thể như: biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an phường N (nay là phường N), tỉnh Cao Bằng Bằng lập hồi 17 giờ 05 phút ngày 23/4/2025 và các vật chứng thu giữ.
Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử nhận định, có đủ căn cứ chứng minh vào hồi 17 giờ 00 phút ngày 23/5/2025 tại khu vực tổ A, phường N, thành phố C (nay là tổ dân phố A, phường N), tỉnh Cao Bằng, tổ công tác Công an thành phường N (nay là phường N), tỉnh Cao Bằng bắt quả tang Nông Minh T đang tàng trữ 0,1750g (Không phẩy một bảy năm không gam) Heroine để sử dụng cho bản thân.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về ma túy. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ tác hại của ma túy nhưng do xem thường pháp luật và để có ma túy sử dụng nên đã thực thiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Nông Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05gam;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. [3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đi ngược lại chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong cuộc đấu tranh đẩy lùi và bài trừ tệ nạn ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội nên cần xử lý nghiêm khắc để làm gương cho người khác, đồng thời phục vụ công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm ma túy ở địa phương. Nhân thân: bị cáo đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính và đã từng bị kết án về tội phạm ma tuý, mặc dù đã được xoá án tích nhưng qua đó thể hiện thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo. Tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tình tiết tăng nặng: không có.
. Hình phạt chính:
Khối lượng ma tuý bị cáo tàng trữ không lớn, bị cáo không có tình tiết tặng nặng, có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng xét thấy bị cáo đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính và đã từng bị kết án về tội phạm ma tuý mà không lấy đó làm bài học cho bản thân, vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên cần áp dụng hình phạt trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, đồng thời mới đủ để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. [6]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xét thấy cần tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy vì là vật bị cấm tàng trữ, lưu hành và vật chứng bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Chiếc xe máy điện nhãn hiệu Anbico-1509 đã được cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh C trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, do xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án là phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. [7]. Các nhận định khác: Đối với nguồn gốc số ma túy, Nông Minh T khai mua với một người đàn ông không quen biết tại khu vực Chợ X thuộc phường T, tỉnh Cao Bằng, quá trình điều tra không xác định được danh tính, nhân thân nên không có căn cứ kiến nghị mở rộng vụ án. [8]. Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo Nông Minh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1- Cao Bằng tại phiên tòa về tội danh, hình phạt và quan điểm xử lý vật chứng là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hoàn cảnh kinh tế của bị cáo, nên cần được chấp nhận. Xét đề nghị xin được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất của bị cáo là thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên cần được xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và mức hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nông Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt Nông Minh T 16 tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 23/4/2025.
2. Về xử lý vật chứng Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “số 214/KL-KTHS. H1 lại mẫu sau giám định vụ Nông Minh T, có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý” mặt sau phong bì có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 dấu giáp lai của Phòng K Công an tỉnh C (Kèm theo Kết luận giám định số 214/KL-KTHS, ngày 30/4/2025 của Phòng K - Công an tỉnh C); 01 (Một) bơm kim tiêm chưa qua sử dụng. Xác nhận các vật chứng nêu trên đã được chuyển giao cho Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Cao Bằng theo biên bản giao, nhận vật chứng số 118 ngày 25 tháng 8 năm 2025. 3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nông Minh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) nộp ngân sách Nhà nước. 4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: -Tòa án tỉnh Cao Bằng; - Công an tỉnh Cao Bằng; - Viện kiểm sát tỉnh Cao Bằng; - Sở Tư pháp tỉnh Cao Bằng; - VKS khu vực 1 - Cao Bằng; - Thi hành Cao Bằng; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hiền |