- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2025/HSST Ngày 08 - 4 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Khương Đặng Khánh Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Vĩnh
Bà Nguyễn Thị Hà
Thư ký phiên tòa: Bà Lại Phương Thúy -Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Thúy Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2025 tại hội trường Uỷ ban nhân dân xã Đồng Quế Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2025/HSST ngày 14/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HS ngày 26/3/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Ngọc Th (tên gọi khác: Không), sinh ngày 04 tháng 7 năm 1974; nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1942 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1943; vợ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1974, con: có 02 con, lớn sinh năm 1995 và nhỏ sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: không
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 18/01/2025, Nguyễn Ngọc Th đang ở nhà thì lên cơn thèm chất ma túy. Th một mình điều khiển xe máy BKS 88S5-9503 đi tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khi Th đi đến khu vực cầu Nóng thuộc thị trấn L, huyện L thì gặp một người đàn ông không quen biết đứng ở ven đường, Th đi đến hỏi và mua được của người này 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000đ. Sau đó, Th cầm gói ma túy ở tay trái đi về tìm nơi sử dụng, khi đi đến đường liên xã thuộc thôn C, xã T thì bị lực lượng Công an huyện S kiểm tra, Th hoảng sợ thả gói ma túy đang cầm trên tay xuống nền đường bê tông. Cơ quan Công an thu giữ: tại nền đường bê tông nơi bắt giữ Th 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chất bột cục màu trắng - niêm phong ký hiệu A1, Th khai nhận đây là ma tuý Heroine Th vừa mua để sử dụng và 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu đen, BKS 88S5-9503.
Ngày 22/01/2025 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc có Văn bản số 276/KLGĐ kết luận: “Chất bột dạng cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1422g, loại Heroine”.
* Vật chứng thu giữ:
- Mẫu A1 = 0,1422g ma tuý Heroine, cơ quan giám định hoàn lại = 0,1219g cùng toàn bộ bao gói.
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu đen, BKS 88S5-9503 là của Thành.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Ngọc Th đã thành khẩn khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 16/CT - VKSSL ngày 10/3/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô: Truy tố Nguyễn Ngọc Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô luận tội đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Th, giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo Thành. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Th. Đề nghị xử phạt bị cáo Th từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 18/01/2025). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, ăn năn hối hận. Bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại điện viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo nhận thức được sai phạm về hành vi đã thực hiện và xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Sông Lô, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu giữ được cùng với các tài liệu, chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nội dung cáo trạng đã được đại diện Viện kiểm sát công bố tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 18/01/2025, tại thôn C, xã T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Ngọc Th, đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma tuý Heroine khối lượng 0,1422g mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an huyện S bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Ngọc Th đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy ... thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm
…c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được những ảnh hưởng xấu của ma túy đến sức khỏe của bản thân và cộng đồng xã hội nhưng do bị cáo là người nghiện ma túy nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo không những gây mất trật tự trị an xã hội mà còn làm tệ nạn ma túy ngày càng lan rộng và phát triển mạnh hơn trong đời sống. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Th luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Đối với 0,1422 gam ma túy Heroine, cơ quan giám định hoàn lại 0,1219 gam mẫu và toàn bộ bao gói là chất nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, Sơn màu đen, BKS: 88 S5 - 9503 là của Th, Th không cất giấu ma túy trên xe, không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên cần xem xét trả lại cho Thành là phù hợp với quy định pháp luật.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Th tại khu vực cầu N, thị trấn L do bị cáo không xác định rõ tên tuổi, địa chỉ và không nhận dạng được vì mua ma túy lần đầu tiên của người đàn ông này nên không có căn cứ để xác minh, điều tra.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xử:
1.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2.Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Th 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 18/01/2025).
3.Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy mẫu trả do cơ quan giám định hoàn trả sau giám định A1= 0,1219 gam mẫu và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ 188/2025”.
Trả lại cho Th 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu đen, BKS: 88S5 -9503.
(Các vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/3/2025 giữa Công an tỉnh Vĩnh Phúc và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Lô).
4.Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Th phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5.Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhândânhuyệnSông Lô; -Viện kiểm sátnhân dântỉnhVĩnh Phúc; -Tòa ánnhân dân tỉnhVĩnhPhúc; - Cơ quanTHAHS CA tỉnh VĩnhPhúc; -Chi cụcThihành ándânsự huyện Sông Lô; -Cơ quan CSĐTcông antỉnhVĩnh Phúc; - Trại tạm giam công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Phòng hồsơCông antỉnhVĩnh Phúc; -Uỷ ban nhândân xãT,huyệnSông Lô; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; Văn phòng. hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Khương Đặng Khánh Hằng Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong Khương Đặng Khánh Hằng |