- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng Đ và đồng bọn - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ - TP HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19 /2025/HS-ST Ngày: 17/04/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đại Huy.
Ông Trương Văn Kế.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quyển - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Bình, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội, Toà án nhân dân huyện Ba Vì xét xử công khai trực tuyến kết hợp với trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số: 13/2025/TLST- HS ngày 18 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST- HS ngày 27 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Hoàng Đ, sinh năm1996. Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội. Trình độ học vấn: 12/12, nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Nguyễn Hoàng C (đã chết), con bà: Chu Thị T. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/9/2024 đến ngày 05/10/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Đỗ Xuân Q, sinh năm 1982. Hộ khẩu thường trú và chỗ ở khi bị bắt: G, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội, trình độ học vấn: 09/12, nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Đỗ Chiến T1, con bà: Đỗ Thị B. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 13/2006/HSST ngày 17/01/2006 TAND TX Hà Đông xử phạt 30 tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, Q đã chấp hành xong hình phạt tù và án phí.
- Tại quyết định số: 886/ QĐ- UBND, ngày 03/10/2011 UBND huyện B ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng.
- Tại bản án số: 05/2012/ HSST ngày 16/02/2012 Toà án nhân dân huyện Thạch Thất xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
- Tại bản án số: 68/2013/HSST ngày 24/12/2013 TAND huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xử 12 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Tổng hợp số phần hình phạt chưa chấp hành của Bản án số 05 ngày 16/02/2012 của TAND huyện Thạch Thất – Hà Nội là 03 năm 07 tháng 16 ngày, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 04 năm 07 tháng 16 ngày. Ngày 04/02/2018 Q đã chấp hành xong án phạt tù. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/9/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an T2. Bị cáo có mặt tại phòng xét xử trực tuyến Trại tạm giam số 1.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Phùng Văn N, sinh năm 1969
Địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội.
(Anh N xin vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 10 giờ 09 phút ngày 27/9/2024 Công an xã P, huyện B, thành phố Hà Nội kiểm tra bắt quả tang đối với Nguyễn Hoàng Đ, sinh năm 1996; HKTT: Thôn P, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội đang có hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ vật chứng 01 gói giấy bọc ngoài bằng nylon chứa chất bột màu trắng (Giám định kết luận là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,231 gam).
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Hoàng Đ khai nhận số ma túy trên là Đ mua của Đỗ Xuân Q, sinh năm 1982 ở thôn Đ, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội với giá 300.000 đồng, vào ngày 27/9/2024 tại thôn Đ, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội.
Căn cứ vào lời khai của Nguyễn Hoàng Đ, cơ quan điều tra đã triệu tập và làm việc với Đỗ Xuân Q, Q khai nhận: Sáng ngày 27/9/2024 Q có bán 01 gói ma túy, loại Heroine cho Nguyễn Hoàng Đ với giá 300.000 đồng tại thôn Đ, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội. Khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Q tại thôn Đ, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội đã phát hiện thu giữ 02 gói giấy màu trắng (trong đó 01 gói bên ngoài được bọc lớp nilong trong suốt) được thu giữ trên mặt tủ bàn thờ trong nhà của Đỗ Xuân Q (Giám định kết luận là ma túy, loại Heroine, tổng khối lượng 0,237 gam).
Tại cơ quan điều tra, Đỗ Xuân Q khai nhận: Nguồn gốc số ma túy mà Q có bán cho anh Đ ngày 27/9/2024 và số ma túy bị thu giữ khi khám xét khẩn cấp là Q mua của một người phụ nữ ngày 24/9/2024 tại khu vực cây xăng thôn Đ, xã Đ, huyện B với giá 500.000 đồng (Q không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người phụ nữ đó, chỉ biết khoảng 40 tuổi). Sau khi mua được ma túy, Q chia số ma túy đó làm 03 gói cất trên mặt tủ bàn thờ. Mục đích để sử dụng và ai mua thì bán. Khoảng 10 giờ ngày 27/9/2024 khi Q đang ở nhà thì Nguyễn Hoàng Đ dùng số điện thoại 0981.069.658 gọi vào số điện thoại 0383.591.982 của Q để hỏi mua 300.000 đồng tiền ma túy heroine. Q đồng ý và hẹn Đ đến bờ hồ thôn Đ, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội để giao dịch mua bán. Khi đến khu vực bờ hồ, Q gặp Đ và đưa bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 gói ma túy heroine cho Đ, đồng thời Đ đưa cho Q số tiền 300.000 đồng.
Tại bản Kết luận giám định số:7060 ngày 06/10/2024 của Phòng KTHS Công an T2 kết luận:
- Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng, bên ngoài bọc nylon màu trắng (đựng trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng) thu giữ của Nguyễn Hoàng Đ là ma túy Heroine, khối lượng 0,231 gam.
- Chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy thu giữ khi khám xét nhà Đỗ Xuân Q là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 0,237 gam.
Đối với người phụ nữ khoảng 40 tuổi đã bán ma túy cho Quyết ngày 24/9/2024, do Q không biết tên, địa chỉ cụ thể của người đó nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA DREAM BKS 29V1-12756 thu giữ của Nguyễn Hoàng Đ. Cơ quan điều tra đã xác minh chủ xe tên là Phùng Văn N, sinh năm 1969 ở thôn C, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội. Đ khai nhận chiếc xe trên là Đức mượn của bác họ tên Phùng Văn N như trên. Cơ quan điều tra đã lấy lời khai Phùng Văn N và làm rõ chiếc xe máy trên đăng ký chính chủ Phùng Văn N, ông N có cho Đức mượn, không biết Đ dùng để đi mua ma túy.
Vật chứng vụ án:
- 01(một) phong bì niêm phong dán kín của Phòng PC09 Công an thành phố T2, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Phạm Trần N1, cán bộ Trần Trung D và bị can Nguyễn Hoàng Đ
- 01 (một) phong bì niêm phong dán kín của Phòng PC09 – Công an thành phố T2, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Phạm Trần N1, cán bộ Trần Trung D và bị can, người chứng kiến Phùng Tuấn A.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu vàng đã qua sử dụng
- 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu đen, đã qua sử dụng.
- 01 (một) xe máy nhãn hiệu HONDA DREAM BKS 29V1 – 127.56, xe đã
qua sử dụng và số tiền 300.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số:12 /CT-VKSBV ngày 17 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, truy tố bị cáo Đỗ Xuân Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.
Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội phát biểu luận tội, giữ nguyên nội dung như Cáo trạng đã truy tố đối với hai bị cáo Nguyễn Hoàng Đ và Đỗ Xuân Q. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tuyên bố bị cá;o Đỗ Xuân Q về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Về hình phạt, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Đ từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ bắt thi hành án. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Đỗ Xuân Q từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với hai bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: - 01(một) phong bì niêm phong dán kín của Phòng PC09 Công an thành phố T2, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Phạm Trần N1, cán bộ Trần Trung D và bị cáo Nguyễn Hoàng Đ; 01 (một) phong bì niêm phong dán kín của Phòng PC09 – Công an thành phố T2, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Phạm Trần N1, cán bộ Trần Trung D và bị cáo, người chứng kiến Phùng Tuấn A.
- Tịch thu phát mại sung công: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu vàng đã qua sử dụng, 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu đen, đã qua sử dụng.
- Hoàn trả: 01 (một) xe máy nhãn hiệu HONDA DREAM BKS 29V1 – 127.56 Xe đã qua sử dụng cho chủ sở hữu là anh Phùng Văn N
- Tịch thu sung công số tiền 300.000 đồng tiền thu lợi bất chính.
Về án phí: Đề nghị buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về nội dung vụ án: Tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Ngày 27/9/2024 Đỗ Xuân Q đã có hành vi bán cho Nguyễn Hoàng Đ 01 gói ma túy heroine có khối lượng 0,231 gam với giá 300.000 đồng để thu lợi bất chính. Khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đỗ Xuân Q thu giữ 02 gói ma túy heroine, có tổng khối lượng 0,237 gam, số ma tuý này Q tàng trữ với mục đích để bán và sử dụng dần. Đối với Nguyễn Hoàng Đ đã mua 01 gói ma túy loại heroine có khối lượng 0,231 gam của Đỗ Xuân Q với mục đích để sử dụng, khi chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang. Do vậy, với hành vi như trên của bị cáo Đỗ Xuân Q đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma tuý tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 251 của Bộ luật hình sự. Hành vi của Nguyễn Hoàng Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249. Do đó mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội truy tố đối với hai bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Xét tính chất mức độ của vụ án: Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Các bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy nhưng vẫn sử dụng, gây mất trật tự trị an xã hội. Do vậy cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị và giáo dục đối với các bị cáo.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Đ có ông nội là người có công, được tặng huân huy chương kháng chiến chống Mỹ nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2, Điều 51 BLHS.
. Về nhân thân:
- Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Đ có nhân thân tốt phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự.
- Đối với bị cáo Đỗ Xuân Q: Nhân thân: Bản án số 13 ngày 17/01/2006 TAND TX Hà Đông xử phạt 30 tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Q đã chấp hành xong hình phạt tù và án phí.
- Tại quyết định số: 886/ QĐ- UBND, ngày 03/10/2011 UBND huyện B ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng.
- Tại bản án số: 05/2012/ HSST ngày 16/02/2012 Toà án nhân dân huyện Thạch Thất xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
- Tại bản án số: 68/2013/HSST ngày 24/12/2013 TAND huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xử 12 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Tổng hợp số phần hình phạt chưa chấp hành của Bản án số 05 ngày 16/02/2012 của TAND huyện Thạch Thất – Hà Nội là 03 năm 07 tháng 16 ngày, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 04 năm 07 tháng 16 ngày. Ngày 04/02/2018 Q đã chấp hành xong án phạt tù. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an T2. Bị cáo có mặt tại phiên tòa. [7]. Hình phạt bổ sung: Các bị cáo là lao động tự do, không có công ăn việc làm, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn, không có tài sản riêng. Do vậy nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
. Các vấn đề khác: Đối với người phụ nữ khoảng 40 tuổi đã bán ma túy cho Quyết ngày 24/9/2024, do Q không biết tên, địa chỉ cụ thể của người đó nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ. Do vậy, không đề cập xử lý trong vụ án này.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA DREAM BKS 29V1-12756 thu giữ của Nguyễn Hoàng Đ. Cơ quan điều tra đã xác minh chủ xe tên là P, sinh năm 1969 ở thôn C, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội. Đ khai nhận chiếc xe trên là Đức mượn của bác họ tên Phùng Văn N như trên. Cơ quan điều tra đã lấy lời khai Phùng Văn N và làm rõ chiếc xe máy trên đăng ký chính chủ Phùng Văn N, ông N có cho Đức mượn, không biết Đ dùng để đi mua ma túy. Do vậy, không đề cập xử lý trong vụ án này.
. Về vật chứng vụ án:
Tịch thu tiêu hủy: - 01(một) phong bì niêm phong dán kín của Phòng PC09 Công an thành phố T2, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Phạm Trần N1, cán bộ Trần Trung D và bị cáo Nguyễn Hoàng Đ; 01 (một) phong bì niêm phong dán kín của Phòng PC09 – Công an thành phố T2, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Phạm Trần N1, cán bộ Trần Trung D và bị cáo, người chứng kiến Phùng Tuấn A.
- Tịch thu phát mại sung công: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu vàng đã qua sử dụng, 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu đen, đã qua sử dụng là công cụ để các bị cáo giao dịch, mua bán ma tuý.
- Hoàn trả: 01 (một) xe máy nhãn hiệu HONDA DREAM BKS 29V1 – 127.56 Xe đã qua sử dụng cho chủ sở hữu là anh Phùng Văn N
- Tịch thu sung công số tiền 300.000 đồng tiền thu lợi bất chính.
. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma
tuý. Tuyên bố bị cáo Đỗ Xuân Q phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 BLHS Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Đ 16 ( Mười sáu ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 27/9/2024 đến ngày 05/10/2024.
3. Áp dụng khoản 1, Điều 251; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đỗ Xuân Q 36 ( Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 27/9/2024.
4. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: - 01(một) phong bì niêm phong dán kín của Phòng PC09 Công an thành phố T2, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Phạm Trần N1, cán bộ Trần Trung D và bị cáo Nguyễn Hoàng Đ; 01 (một) phong bì niêm phong dán kín của Phòng PC09 – Công an thành phố T2, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Phạm Trần N1, cán bộ Trần Trung D và bị cáo, người chứng kiến Phùng Tuấn A.
- Tịch thu phát mại sung công: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu vàng đã qua sử dụng không khởi động được nguồn điện, không kiểm tra được số Imei, không kiểm tra được chất lượng máy. 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu đen, đã qua sử dụng không khởi động được nguồn điện, không kiểm tra được số Imei, không kiểm tra được chất lượng máy.
- Hoàn trả cho ông Phùng Văn N: 01 (một) xe máy nhãn hiệu HONDA DREAM BKS 29V1 – 127.56. Số máy HA08E- 1559530, số khung: RLHHA0803AY259489, xe không có gương chiếu hậu, có 01 chìa khoá xe, xe đã cũ nát, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng máy.
- Tịch thu sung công số tiền 300.000 đồng tiền thu lợi bất chính.
( Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/03/2025 và giấy nộp tiền ngày 09/4/2025). 5. Án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS 2015; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Hoàng Đ, Đỗ Xuân Q mỗi người phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 231 BLTTHS.
Bị cáo Nguyễn Hoàng Đ, Đỗ Xuân Q có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án. Nơi gửi:
T.M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- TAND.Tp.Hà Nội
| - VKSND.H.Ba Vì. - Chi cục THA.DS Ba Vì. - Các bị cáo. -Lưu HS, VP. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Yến |