- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc B và đồng phạm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quốc B và Nguyễn Thanh P phạm tội“Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2025/HS-ST Ngày: 25-8-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh B.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Triệu Khánh Long.
Ông Trịnh Văn Lộc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tào Văn Hai Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Đy Na - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST-HS, ngày 25 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-HS ngày 07/8/2025 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Quốc B, sinh ngày 06/11/2005; Nơi sinh: phường B, tỉnh Cà Mau. Nơi thường trú: Khóm H, phường B, tỉnh Cà Mau. Nơi ở hiện nay: Khóm H, phường B, tỉnh Cà Mau; Địa chỉ cũ: Khóm B, Phường T, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Quốc M, sinh năm 1977 và bà Lâm Thị Thu H, sinh năm 1980, cư trú cùng địa chỉ với bị cáo; Bị cáo chưa có vợ, con; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Tiền án: không; Tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 30/11/2024 và chuyển tạm giam đến nay. Bị cáo có mặt.
2. Nguyễn Thanh P, sinh ngày 27/4/2005; Nơi sinh: phường B, tỉnh Cà Mau. Nơi thường trú: số 19/243, Khóm M, phường B, tỉnh Cà Mau. Nơi ở hiện nay: số 19/243, Khóm M, phường B, tỉnh Cà Mau; Địa chỉ cũ: Số 19/243, Khóm C, Phường M, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn V, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị U, sinh năm 1975, cư trú cùng địa chỉ với bị cáo; Bị cáo chưa có vợ, con; Anh chị em ruột gồm có 02 người, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2006. Tiền án: không; Tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 30/11/2024 và chuyển tạm giam đến nay. Bị cáo có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Trần Tấn H, sinh ngày 27/5/2006. Nơi thường trú: Khóm H, phường V, thành phố Cần Thơ (có mặt).
- Ông Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 01/4/1990. Nơi thường trú: số 02/7, Khóm B, phường V, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Quốc M, sinh ngày: 01/9/1977; Nơi thường trú: Khóm H, phường B, tỉnh Cà Mau (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 01 giờ 45 phút rạng sáng ngày 30/11/2024, tại đoạn đường quốc lộ Nam Sông Hậu thuộc khu vực ấp T, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp T, phường V, thành phố Cần Thơ) lực lượng Công an thị xã Vĩnh Châu tiến hành tuần tra kiểm soát an ninh, trật tự trên địa bàn xã V phát hiện, bắt quả tang đối tượng Nguyễn Thanh P điều khiển xe mô tô biển số 94K1-968.72 chở Nguyễn Quốc B về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; tại hiện trường thu giữ tang vật gồm 01 bịch nylon bên trong chứa 10 (mười) viên nén màu xanh không rõ hình dạng là ma túy (loại MDMA) đã niêm phong gói 01, 04 (bốn) bịch ma túy (loại Ketamine) đã niêm phong gói 02, 01 (một) bịch màu xám được hàn kín trên có chữ Greenapple hình người cười nghi là ma túy đã niêm phong gói 03 (do Nguyễn Quốc B ném bỏ xuống đường gần vị trí bị bắt giữ); thu giữ 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh bị bể màn hình, tiền VNĐ 759.000 đồng và 01 (một) chiếc xe mô tô biển số 94K1-968.72 của Nguyễn Quốc B; thu giữ 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen của Nguyễn Thanh P. Qua điều tra đã làm rõ được như sau:
Vào khoảng 22 giờ ngày 29/11/2024, Nguyễn Quốc B đang ở thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là phường B, tỉnh Cà Mau) thì Trần Tấn H ở Phường M, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (nay là phường V, thành phố Cần Thơ) điện thoại liên hệ với B để hỏi mua ma túy dạng kẹo và dạng khay với số tiền 8.100.000 đồng nên B đồng ý. Sau đó, B đi mua ma túy của một người thanh niên (không rõ lai lịch) ở thành phố Bạc Liêu được 01 bịch nylon chứa 10 (mười) viên ma túy (dạng kẹo) và 04 (bốn) bịch ma túy (dạng khay) với số tiền 7.600.000 đồng, rồi B cất giấu ma túy trong túi quần, B điều khiển xe mô tô biển số 94K1-968.72 đến rủ Nguyễn Thanh P đang ở tại tiệm nét đi thị xã V giao ma túy cho Trần Tấn H thì P đồng ý nên P điều khiển xe mô tô biển số 94K1-968.72 chở B ngồi sau đem theo ma túy đi về hướng thị xã V. Khi P và B đi đến khu vực ấp T, xã V, thị xã V thì bị lực lượng Công an tuần tra phát hiện bắt quả tang và thu giữ 10 (mười) viên ma túy (dạng kẹo) và 04 (bốn) bịch ma túy (dạng khay).
Tại bản Kết luận giám định số 242/KLMT-KTHS ngày 08/12/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng, kết luận như sau:
+ Gói 01: Mẫu 10 viên nén không rõ hình dạng màu xanh được niêm phong (ma túy thu giữ của Nguyễn Quốc B và Nguyễn Thanh P lúc bắt quả tang) gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 4,7087 gam, loại MDMA.
+ Gói 02: Mẫu tinh thể rắn màu trắng (A1) được niêm phong (ma túy thu giữ của Nguyễn Quốc B và Nguyễn Thanh P lúc bắt quả tang) gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 2,6410 gam, loại Ketamine.
Mẫu tinh thể rắn màu trắng (A2) được niêm phong (ma túy thu giữ của Nguyễn Quốc B và Nguyễn Thanh P lúc bắt quả tang) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,1438 gam, loại Ketamine.
Mẫu tinh thể rắn màu trắng (A3) được niêm phong (ma túy thu giữ của Nguyễn Quốc B và Nguyễn Thanh P lúc bắt quả tang) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,9983 gam, loại Ketamine.
Tổng khối lượng ma túy, loại Ketamine của gói số 02 (A1 + A2 + A3) nêu trên là 4,7831 gam.
+ Gói 03: Mẫu chất rắn màu xanh được niêm phong gửi giám định không tìm thấy thành phần các chất ma túy và tiền chất theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 và Nghị định số 90/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2024 của Chính phủ, có khối lượng 1,5513 gam.
Trong quá trình điều tra các bị cáo B và P đã tự khai nhận về hành vi phạm tội do mình gây ra. Ngoài ra, bị cáo P còn khai nhận vào ngày 10/11/2024 P đã bán 02 (hai) viên ma túy dạng kẹo và 01 (một) bịch ma túy dạng khay cho Trần Tấn H với giá 2.000.000 đồng tại khu vực đường L, Khóm N, Phường M, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (nay là Khóm N, phường V, thành phố Cần Thơ); bị cáo B còn khai nhận vào ngày 20/11/2024 B đã bán 02 (hai) viên ma túy dạng kẹo và 01 (một) bịch ma túy dạng khay cho Trần Tấn H với giá 2.000.000 đồng tại khu vực đường L, Khóm N, Phường M, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (nay là Khóm N, phường V, thành phố Cần Thơ).
Từ những căn cứ nêu trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng tiến hành khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Quốc B và Nguyễn Thanh P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng số: 04/CT-VKS-KV8, ngày 22 tháng 7 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ đã truy tố các bị cáo Nguyễn Quốc B và Nguyễn Thanh P về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Quốc B và Nguyễn Thanh P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt các bị cáo cụ thể như sau:
Về hình phạt:
- Đề nghị áp dụng điểm b, p khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Quốc B và Nguyễn Thanh P:
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc B từ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về xử lý vật chứng:
Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu và nộp ngân sách nhà nước:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh bị bể màn hình đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Quốc B.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Thanh P.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu hồng đã qua sử dụng của ông Trần Tấn H.
Tịch thu để tiêu hủy các vật chứng của vụ án gồm:
- 01 (một) gói niêm phong bên trong có 3,7935 gam mẫu viên nén không rõ hình, màu xanh còn lại sau giám định (gói 01);
- 01 (một) gói niêm phong bên trong có 2,5228 gam mẫu tinh thể rắn màu trắng (A1); 1,0273 gam mẫu tinh thể rắn màu trắng (A2); 0,9161 gam mẫu tinh thể rắn màu trắng (A3) còn lại sau giám định (gói 02);
- 01 (một) gói niêm phong bên trong có 1,2998 gam mẫu chất rắn màu xanh còn lại sau giám định (gói 03).
- 01 sim điện thoại số 0813222995 đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Thanh P.
- 01 sim điện thoại số 0865004015 đã qua sử dụng của ông Trần Tấn H.
Trả lại các tài sản sau:
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quốc B: tiền VNĐ 759.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội.
- Trả lại cho ông Nguyễn Quốc M (một) chiếc xe mô tô hiệu HONDA (loại WAVE) màu xanh biển số 94K1-968.72, số máy HC09E3019057, số khung 09004Y319029.
Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/8/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cần Thơ với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 - Cần Thơ.
- Về án phí: Đề nghị áp dụng theo quy định của pháp luật về án phí và lệ phí.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Quốc B và Nguyễn Thanh P nói lời sau cùng: Các bị cáo thừa nhận hành vi vi phạm pháp luật hình sự và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
- Về hành vi, quyết định tố tụng trước đây của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Nguyễn Hoàng T, không rõ lý do. Tại phiên tòa, các bị cáo, Kiểm sát viên và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt đều đề nghị xét xử vắng mặt ông T. Xét thấy, trong quá trình điều tra vụ án, ông T đã có lời khai rõ ràng, việc vắng mặt của ông T không gây trở ngại đến việc giải quyết vụ án. Sau khi Hội đồng xét xử tiến hành hội ý tại chỗ căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
Về hành vi của bị cáo:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Quốc B và Nguyễn Thanh P đã thừa nhận đã có hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” và đã bị bắt quả tang vào ngày 30/11/2024. Lời nhận tội của các bị cáo và lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án là phù hợp với Cáo trạng số: 04/CT-VKS-KV8, ngày 22 tháng 7 năm 2025 truy tố các bị cáo Nguyễn Quốc B và Nguyễn Thanh P về hành vi “Phạm tội 02 lần trở lên và Có 02 chất ma túy trở lên...” theo quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Xét hành vi của các bị cáo Nguyễn Quốc B và Nguyễn Thanh P là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến xã hội. Vì vậy, việc xét xử các bị cáo Nguyễn Quốc B và Nguyễn Thanh P tội về “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan sai cho các bị cáo. Do đó cần phải xử lý nghiêm và có hình phạt phù hợp nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người tốt sau này.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận các bị cáo Nguyễn Quốc B và Nguyễn Thanh P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Với hành vi phạm tội nguy hiểm nêu trên, cần phải cách ly các bị cáo Nguyễn Quốc B và Nguyễn Thanh P ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian hợp lý để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người tốt sau này, đồng thời mới có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội, nhất là hiện nay tình trạng mua bán, tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ngày càng phổ biến và lan rộng tới những đối tượng trẻ tuổi. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc B từ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) năm tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù cùng về tội danh trên là tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo nên Hội đồng xét xử cần áp dụng một hình phạt tù nghiêm phù hợp đối với vai trò của từng bị cáo.
Xét mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy rằng:
- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Nguyễn Quốc B và Nguyễn Thanh P đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự thú về hành vi phạm tội trước đó, chưa có tiền án, tiền sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên được quy định tại điểm r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các tình tiết giảm nhẹ này, được Hội đồng xét xử xem xét, áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo Nguyễn Quốc B và Nguyễn Thanh P thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật Việt Nam.
Trong vụ án này, bị cáo B là người rủ rê bị cáo P, bị cáo P tiếp nhận ý chí từ bị cáo B rồi cùng thực hiện hành vi phạm tội nhưng không có sự cấu kết chặt chẽ, phân công vai trò của từng người do đó thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Do đó từng bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình.
Xử lý vật chứng, đồ vật và tài sản tạm giữ:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu và nộp ngân sách nhà nước:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh bị bể màn hình đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Quốc B.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Thanh P.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu hồng đã qua sử dụng của ông Trần Tấn H.
Tịch thu để tiêu hủy các vật chứng của vụ án gồm:
- 01 (một) gói niêm phong bên trong có 3,7935 gam mẫu viên nén không rõ hình, màu xanh còn lại sau giám định (gói 01);
- 01 (một) gói niêm phong bên trong có 2,5228 gam mẫu tinh thể rắn màu trắng (A1); 1,0273 gam mẫu tinh thể rắn màu trắng (A2); 0,9161 gam mẫu tinh thể rắn màu trắng (A3) còn lại sau giám định (gói 02);
- 01 (một) gói niêm phong bên trong có 1,2998 gam mẫu chất rắn màu xanh còn lại sau giám định (gói 03).
- 01 sim điện thoại số 0813222995 đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Thanh P.
- 01 sim điện thoại số 0865004015 đã qua sử dụng của ông Trần Tấn H.
Trả lại các tài sản sau:
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quốc B: tiền VNĐ 759.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội.
- Trả lại cho ông Nguyễn Quốc M (một) chiếc xe mô tô hiệu HONDA (loại WAVE) màu xanh biển số 94K1-968.72, số máy HC09E3019057, số khung 09004Y319029.
Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/8/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cần Thơ với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 - Cần Thơ.
Trong quá trình điều tra, Trần Tấn H đã thừa nhận vào ngày 29/11/2024 có người thanh niên tên H1 nhà ở Cầu N, Phường M, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (nay là phường V) gặp trực tiếp nhờ H đặt mua ma túy dùm nên H đã gọi điện thoại cho bị cáo Nguyễn Quốc B để đặt mua 10 (mười) viên ma túy (dạng kẹo) và 04 (bốn) bịch ma túy (dạng khay) với giá 8.100.000 đồng, trong quá trình thỏa thuận mua bán ma túy bị cáo B yêu cầu chuyển khoản trước 4.000.000 đồng thì B mới đồng ý giao ma túy, lúc này H nói với H1 chuyển tiền 4.000.000 đồng cho bị cáo B theo như thỏa thuận nên vào đêm ngày 29/11/2024 bị cáo B cùng bị cáo P điều khiển xe đem ma túy đi giao cho Trần Tấn H nhưng chưa kịp giao ma túy cho H thì bị Công an bắt quả tang. Đồng thời Trần Tấn H cũng thừa nhận trước đó H đã từng mua ma túy của các bị cáo B và P được 02 (hai) lần, mục đích là để sử dụng, không nhằm để bán lại cho người khác. Tuy nhiên, khi tiến hành cho Trần Tấn H đối chất giữa H với Nguyễn Hoàng T (có tên thường gọi là H1) thì cả hai đều khai nhận chưa từng gặp mặt và không quen biết nhau. Bên cạnh đó, các bị cáo B và P đều khẳng định từ trước đến nay không quen biết với Nguyễn Hoàng T (có tên thường gọi là H1) và cũng chưa từng giao dịch mua bán ma túy với T, khi tiến hành tra cứu sao kê lịch sử giao dịch ngân hàng đối với thông tin tài khoản của Trần Tấn H tại thời điểm xảy ra vụ án thì không phát sinh lịch sử giao dịch chuyển tiền. Trên cơ sở kết quả điều tra, xét thấy việc Trần Tấn H đã liên hệ mua ma túy của các bị cáo B và P nhưng H chưa nhận được ma túy từ các bị cáo B và P, chỉ có lời khai duy nhất của Trần Tấn H cho rằng tên Hoàng (Nguyễn Hoàng T) đã chuyển tiền 4.000.000 đồng cho bị cáo B trước để đặt mua ma túy, ngoài ra không có tài liệu chứng cứ nào khác để chứng M, do đó chưa đủ căn cứ vững chắc để khởi tố xử lý đối với Trần Tấn H và Nguyễn Hoàng T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đối với ông Nguyễn Quốc M (cha của bị cáo B) là chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển số 94K1-968.72 do bị cáo B sử dụng làm P tiện để đem ma túy đi bán. Trên cơ sở kết quả điều tra, xét thấy ông Nguyễn Quốc M không biết việc các bị cáo B và P dùng chiếc xe biển số 94K1-968.72 làm P tiện để đem ma túy đi bán, do đó không có căn cứ xử lý đối với ông Nguyễn Quốc M theo quy định của pháp luật.
Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho bị cáo B; trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Sóc Trăng có tiến hành điều tra xác M nhưng chưa làm rõ được họ tên và địa chỉ cụ thể của người thanh niên này, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, đủ căn cứ sẽ xử lý sau, theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Quốc B và Nguyễn Thanh P mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 Cần Thơ tại phiên toà là có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quốc B và Nguyễn Thanh P phạm tội“Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm b, p khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc B 09 (chín) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 30/11/2024.
- Căn cứ điểm b, p khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 08 (tám) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 30/11/2024.
2. Xử lý vật chứng, đồ vật và tài sản tạm giữ:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu và nộp ngân sách nhà nước:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh bị bể màn hình đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Quốc B.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Thanh P.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu hồng đã qua sử dụng của ông Trần Tấn H.
Tịch thu để tiêu hủy các vật chứng của vụ án gồm:
- 01 (một) gói niêm phong bên trong có 3,7935 gam mẫu viên nén không rõ hình, màu xanh còn lại sau giám định (gói 01);
- 01 (một) gói niêm phong bên trong có 2,5228 gam mẫu tinh thể rắn màu trắng (A1); 1,0273 gam mẫu tinh thể rắn màu trắng (A2); 0,9161 gam mẫu tinh thể rắn màu trắng (A3) còn lại sau giám định (gói 02);
- 01 (một) gói niêm phong bên trong có 1,2998 gam mẫu chất rắn màu xanh còn lại sau giám định (gói 03).
- 01 sim điện thoại số 0813222995 đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Thanh P.
- 01 sim điện thoại số 0865004015 đã qua sử dụng của ông Trần Tấn H.
Trả lại các tài sản sau:
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quốc B: tiền VNĐ 759.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội.
- Trả lại cho ông Nguyễn Quốc M (một) chiếc xe mô tô hiệu HONDA (loại WAVE) màu xanh biển số 94K1-968.72, số máy HC09E3019057, số khung 09004Y319029.
Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/8/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cần Thơ với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 - Cần Thơ.
3. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Buộc bị cáo: Nguyễn Quốc B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Buộc bị cáo: Nguyễn Thanh P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo bản án: các bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày giao nhận bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm theo quy định tại các Điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
| Nơi nhận: - TAND TP Cần Thơ; - VKSND TP Cần Thơ; - Cơ quan THAHS CA TP Cần Thơ; - CQCSĐT CA TP Cần Thơ; - VKSND khu vực 8 - Cần Thơ; - Phân trại tạm giam thị xã Vĩnh Châu; - Phòng THADS khu vực 8 - Cần Thơ; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh B |