- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê văn hiền - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2-NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2025/HS-ST Ngày: 27-9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2-NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phùng Thị Hương Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Dũng và bà Lê Thị Hồng
ơ
- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Hải - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2-Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2-Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hồng Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2-Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 9 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QĐST-HS ngày 22 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 26 tháng 4 năm 1993 tại xã H, thị xã H, tỉnh Bình Đĩnh (cũ); Nơi cư trú: thôn Lương Thọ 3, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định (nay là thôn L, phường H, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Lái xe; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Lê Văn Ct và bà Ngô Thị T; Vợ: Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1999 vaf có 01 con, sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và quyết định tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 19 tháng 6 năm 2025 đến nay. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Đình Thế-Luật sư, thuộc Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
Bị hại: - Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1983
Nơi cư trú: thôn T, xã T, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
- Công ty cổ phần đầu tư P
Địa chỉ: xóm H, xã H, tỉnh Nghệ An
Đại diện theo ủy quyền cho công ty có: ông Chu Đức D; chức vụ: Trưởng phòng quản lý vận hành Công ty cổ phần đầu tư P. Vắng mặt có lý do.
- Công ty TNHH TMDV và Vận tải Q
Địa chỉ: thôn X, xã T, thành phố Hà Nội
Đại diện theo ủy quyền cho công ty có: ông Trịnh Văn T, sinh năm 1965; chức vụ: Lái xe.
Địa chỉ: thôn X, xã T, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 17/01/2025, Lê Văn H (có Giấy phép lái xe hạng C số 520174004492 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Bình Định cấp ngày 30/7/2024) cùng anh Phan Xuân T (sinh năm 2001, trú tại thôn Tường Sơn Nam, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định (cũ), nay là thôn T, phường H, tỉnh Gia Lai) đi đến Khu công nghiệp Đài Tư (địa chỉ: số 386 Nguyễn Văn Linh, phường Sài Đồng, quận Long Biên (cũ), thành phố Hà Nội) nhận xe ô tô tải nhãn hiệu CHENGLONG, màu sơn bạc, biển số 29K-057.72 (xe ô tô tải 29K-057.72) của Công ty TNHH TMDV và vận tải Q để chở hàng từ Khu công nghiệp Đài Tư đi thành phố Hồ Chí Minh cho công ty. Sau khi nhận xe thì anh Phan Xuân T điều khiển xe ô tô tải 29K-057.72 di chuyển từ Khu công nghiệp Đài Tư vào thành phố Hồ Chí Minh trên đường cao tốc Bắc - Nam, còn Lê Văn H vào trong ca bin xe để ngủ. Đến khoảng 03 giờ 00 phút ngày 18/01/2025, khi đi đến địa phận huyện Quỳnh Lưu (cũ), tỉnh Nghệ An thì anh T đổi lái cho H. Sau đó, H tiếp tục điều khiển xe di chuyển trên đường cao tốc Bắc - Nam. Khoảng 04 giờ 45 phút cùng ngày, H điều khiển xe ô tô tải 29K-057.72 đi vào làn đường dẫn lối ra cao tốc thuộc địa phận xóm 5, xã N, huyện N (cũ), nay là xã T, tỉnh Nghệ An để đổ dầu xe. Khi điều khiển xe gần đến trạm thu phí BOT thì H ngủ gật, lúc giật mình tỉnh dậy thì phát hiện xe ô tô tải 29K-057.72 sắp va chạm với giải phân cách giữa đường. H điều khiển xe ô tô đánh lái sang trái để tránh va chạm nhưng không kịp, dẫn đến lốp ngoài dãy lốp phía sau bên phải xe ô tô tải 29K-057.72 va chạm với giải phân cách giữa đường. Sau va chạm, xe ô tô tải 29K-057.72 tiếp tục lao lên phía trước va chạm với trạm thu phí BOT dẫn đến xe bị lật nghiêng sang trái. Hậu quả: xe ô tô tải 29K-057.72 và trạm thu phí BOT bị hư hỏng, anh Nguyễn Văn T (sinh năm 1983, trú tại thôn T, xã T, huyện C (cũ), tỉnh Hà Tĩnh, nay là thôn T, xã T, tỉnh Hà Tĩnh) là nhân viên đang ở trong bốt gác của trạm thu phí BOT bị thương tích.
Kết quả khám nghiệm hiện trường, phương tiện liên quan và kết quả giám định:
* Kết quả khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông.
Vụ tai nạn giao thông xảy ra tại khu vực trạm thu phí phía Tây của đường dẫn giao cao tốc Diễn Châu - Bãi Vọt và Quốc lộ 7C thuộc địa phận xóm 5, xã Nghi Phương, huyện Nghi Lộc (cũ), nay là xã Thần Lĩnh, tỉnh Nghệ An. Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là phần đường thu phí hướng từ cao tốc Diễn Châu - Bãi Vọt đi Quốc lộ 7C. Phần đường được chia thành hai làn đường ngăn cách bằng giải phân cách cứng bằng bê tông, tầm nhìn không bị che khuất. Lấy điểm chính giữa của đầu dải phân cách phía Đông nằm giữa làn đường phía Bắc làm điểm mốc, lấy mép đường phía Bắc của làn đường phía Nam làm mép chuẩn.
- Tại vị trí cách điểm mốc 0,35m trên bề mặt phía Nam của dải phân cách giữa làn đường có vùng dấu vết nứt, vỡ, bong tróc vôi vữa, bê tông, mài trượt bám dính chất màu đen theo chiều hướng từ Đông sang Tây trên diện kích thước (0,55x2,60)m, ký hiệu số (1).
- Cách điểm mốc 1,65m về phía Tây trên mặt đường của làn đường phía Nam, cách mép đường chuẩn 0,50m là điểm đầu của vết mài trượt bám dính chất màu đen kéo dài 7,32m theo chiều hướng từ Đông sang Tây, điểm kết thúc của dấu vết cách mép đường chuẩn 1m, ký hiệu số (2).
- Cách điểm mốc 0,30m, cách mép đường chuẩn 1,95m về phía Nam trên mặt đường của làn đường phía Nam là điểm đầu của dấu vết mài trượt mặt đường bám dính chất màu đen kéo dài 20,10m theo chiều hướng từ Đông sang Tây, điểm cuối của dấu vết kết thúc tại tâm trục bánh xe phía sau bên trái của xe ô tô biển kiểm soát 29K-057.72 cách mép đường chuẩn 0,60m, ký hiệu số (3).
- Tại vùng chính giữa của dải phân cách cứng cách điểm mốc 12m có 02 khung sắt hình chữ U và 01 cột sắt bên ngoài được sơn màu đỏ trắng bị gãy, cong gập, ngã đổ theo chiều hướng từ Đông sang Tây, ký hiệu số (4).
- Cách điểm mốc 20,50m về phía Tây trên mặt đường của làn đường phía Nam, cách mép chuẩn 0,60m là vị trí tâm trục bánh xe phía sau bên trái của xe ô tô biển kiểm soát 29K-057.72 đã bị lật nghiêng về phía bên trái trên mặt đường, đầu xe hướng Tây, đuôi xe hướng Đông; tâm trục bánh xe phía trước bên trái của xe ô tô cách mép chuẩn 1,25m. Trên hiện trường xe ô tô mang biển kiểm soát 29K-057.72, ký hiệu số (5).
- Cách điểm mốc 25,50m trên dải phân cách chính giữa của phần đường là vị trí của 02 cột trụ có gắn các thiết bị giám sát và thu phí đã bị cong gập, nghiêng theo chiều hướng từ Đông sang Tây, ký hiệu số (6).
- Trên làn đường phía Bắc, cách điểm mốc 12,50m về phía Tây có vùng dấu vết gồm các mảnh vỡ, kính, nhựa, cánh cửa nhôm kính, bốt gác đã bị ngã đổ, móp méo trên diện kích thước (24,10mx10,30m), ký hiệu số (7).
* Kết quả khám xe mô tô biển kiểm soát 29K-057.72:
- Phía bên phải kính chắn gió phía trước có vùng dấu vết nứt vỡ trên diện (1,2 x 0,8)m, chiều hướng từ trước ra sau.
- Ốp bắt biển hiệu xe phần bên phải bị trượt xước, móp méo không liên tục trên diện (0,75x0,8)m, chiều hướng từ trước về sau, bề mặt bám dính sơn màu đỏ và chất màu trắng dạng vôi vữa, nilon sơn, vị trí cao nhất cao cách đất 1,6m.
- Cụm đèn chiếu sáng bên phải đầu xe, bên phải ba đờ xốc trước, biển số trước tấm nhựa bên trên ba đờ xốc có vùng dấu vết trượt xước nứt vỡ, đứt rách móp méo sơn nhựa kim loại trên diện (1,5x0,7)m, chiều hướng từ trước ra sau, bề mặt bám dính chất màu xanh, đỏ trắng dạng sơn, vị trí cao nhất cách đất 0,8m.
- Cần gương và gương chiếu hậu bên phải bị nứt vỡ, trượt xước, cong gập từ trước về sau, cần gương bám dính chất màu nâu đỏ dạng sơn.
- Mặt lăn và thành lốp trước bên phải, vùng la răng bánh lốp có vùng dấu vết trượt xước cao su, kim loại, đứt rách thủng cao su tại vị trí cách lỗ chân van 0,47cm theo chiều quay tiến của bánh xe, rách trên diện (0,43x0,13)m, chiều hướng từ ngoài vào trong, bề mặt rách cao su trượt xước, bề mặt bám dính chất màu nâu đỏ dạng sơn.
- Phần phía dưới cánh cửa bên phải ca bin, bậc lên xuống bên phải ca bin, ốp nhựa phía trên bánh trước bên phải có vùng dấu vết đứt rách, cong vênh nhựa, kim loại, không liên tục, mặt ngoài bám dính chất màu trắng, xanh, vàng, đỏ, chiều hướng từ trước ra sau.
- 02 bình hơi, hộp đựng bình ắc quy phía dưới trước bên phải thùng xe, giàn bảo hiểm phía bên phải thùng xe có vùng dấu vết trượt xước, gãy vỡ kim loại, móp méo biến dạng chiều hướng từ trước ra sau, bề mặt bám dính chất màu xanh, trắng, vàng dạng sơn.
- Má ngoài lốp ngoài dãy bánh lốp phía sau bên phải xe có vùng dấu vết trượt sạch bụi đất, sáng cao su không liên tục trên diện (0,9x0,2)m, chiều hướng từ mặt lăn vào tâm trục, bề mặt bám dính chất màu vàng, đỏ, trắng dạng sơn, tiếp sát vùng này vành la răng lốp này cũng bị trượt xước, cong vênh, móp méo kích thước (0,5x0,8)m, chiều hướng mặt lăn vào tâm trục, bề mặt bám dính chất màu đen, trắng; chắn bùn phía trên dãy bánh lốp này bị cong vênh, trượt xước hướng từ trước về sau, phần phía trước bề mặt bám dính chất màu trắng, vàng dạng vôi vữa.
- Má ngoài lốp ngoài dãy bánh lốp phía sau bên trái có vùng dấu vết trượt sáng cao su, sạch bụi đất bám không liên tục.
- Bánh lốp phía trong dãy bánh lốp sau bên trái bị rách thủng, hết hơi, mặt phía trong tiếp giáp với nhíp bên trái, có vùng dấu vết trượt sáng cao su, sạch bụi đất bám trên toàn bộ má trong rộng 0,2m, trên vùng này có 04 vết đứt rách cao su thủng, mỗi vết vết cách nhau 0,1m, chiều hướng ngược chiều quay tiến của bánh xe, vành la răng tiếp giáp vùng dấu vết mô tả này cũng bị trượt xước kim loại liên tục dài 0,1m.
- Mặt ngoài bên trái nhíp dãy bánh sau bên trái (đối diện với bánh trong bên trái phía sau xe) có vùng dấu vết trượt sạch bụi đất sáng kim loại, chiều hướng từ trên xuống dưới, sau ra trước, bề mặt bám dính chất màu đen dạng cao su.
- Hệ thống an toàn kỹ thuật: Không kiểm tra được hệ thống phanh, côn, ga, đèn, còi do xe hư hỏng sau tai nạn.
* Kết quả giám định, định giá tài sản:
- Tại Bản kết luận giám định số 44/KL-KTHS(DVCH) ngày 28/02/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:
“1. Ngay tại thời điểm xảy ra tai nạn xe ô tô tải mang BKS 29K-057.72 di chuyển trên đường dẫn xuống cao tốc Diễn Châu - Bãi Vọt theo hướng từ đường cao tốc đi Quốc lộ 7C.
Xe ô tô tải mang BKS 29K-057.72 có va chạm với dải phân cách phân chia làn đường trên đường dẫn xuống cao tốc Diễn Châu - Bãi Vọt, thuộc địa phận xóm 5, xã Nghi Phương, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
- Vị trí va chạm đầu tiên:
+ Trên hiện trường: Ở mặt phía Nam dải phân cách.
+ Trên xe ô tô tải mang BKS 29K-057.72: Ở lốp ngoài dãy bánh lốp phía sau bên phải xe, chiều hướng dấu vết va chạm từ mặt lăn vào tâm trục.
- Tư thế va chạm: Mặt lăn các dãy bánh lốp của xe ô tô tải mang BKS 29K-057.72 đang tiếp xúc mặt đường.
3. Không đủ cơ sở xác định tốc độ xe ô tô tải mang BKS 29K-057.72 ngay tại thời điểm xảy ra tai nạn”.
- Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 161/KLTTCT-TTPY ngày 05/5/2025 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế Nghệ An kết luận: “Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T tại thời điểm giám định là: 54% (năm mươi tư phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư”.
- Tại bản Kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐGTS ngày 26/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Nghệ An kết luận về thiệt hại của trạm thu phí BOT:“Tổng trị giá tài sản bị thiệt hại liên quan đến vụ tai nạn giao thông ngày 18/01/2025 là 488.700.000 đồng”.
- Ngày 15/4/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An đã tiến hành trưng cầu giám định kỹ thuật số và điện tử đối với 01 (một) tệp video (ghi nhận diễn biến hình ảnh vụ tai nạn giao thông, trích xuất từ camera giám sát của trạm thu phí BOT. Tại bản Kết luận giám định số 34/KL-KTHS(Đ3-KTSĐT) ngày 21/4/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:“Không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 01 (một) tệp video có tên: tai nạn 20250118.MP4 được lưu trữ trong dĩa DVD nhãn hiệu MAXELL, dung lượng 4GB gửi đến giám định".
- Tại Biên bản kiểm tra nồng độ cồn lập hồi 05 giờ 52 phút ngày 18/01/2025 của Cục Cảnh sát giao thông đối với Lê Văn H cho kết quả: “Nồng độ cồn 0.000mg/L khí thở”.
- Tại Biên bản kiểm tra ma tuý lập hồi 06 giờ 00 phút ngày 18/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nghi Lộc (cũ), tỉnh Nghệ An đối với Lê Văn H cho kết quả: “Âm tính”.
Xử lý tài liệu, phương tiện liên quan:
- 01 (một) Giấy phép lái xe hạng C số 520174004492 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Bình Định cấp ngày 30/7/2024 mang tên Lê Văn H - được lưu giữ theo hồ sơ vụ án
- 01 (một) xe ô tô tải nhãn hiệu CHENGLONG, màu sơn bạc, biển kiểm soát 29K-057.72 thuộc sở hữu của Công ty TNHH TMDV và vận tải Q - hiện Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chủ sở hữu.
Về trách nhiệm dân sự:
- Quá trình điều tra và theo đơn xin xét xử vắng mặt, đại diện cho Công ty Cổ phần đầu tư P vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc bị cáo Lê Văn H bồi thường số tiền 578.890.000 đồng để khắc phục trạm thu phí BOT. Hiện nay bị cáo đã bồi thường được số tiền 30.000.000 đồng.
- Bị cáo Lê Văn H đã bồi thường thiệt hại về sức khoẻ cho anh Nguyễn Văn T số tiền 62.000.000 đồng, anh T không có yêu cầu gì thêm.
- Đối với xe ô tô tải nhãn hiệu CHENGLONG, màu sơn bạc, biển kiểm soát 29K-057.72 bị hư hỏng, phía Công ty TNHH TMDV và vận tải Q từ chối giám định thiệt hại và không yêu cầu bị cáo Lê Văn H bồi thường dân sự.
Bản cáo trạng số 13/CT-VKS-NL ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2-Nghệ An đã truy tố Lê Văn H về tội, “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra và nội dung cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2-Nghệ An thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt:
Bị cáo Lê Văn H mức án từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho UBND phường H, tỉnh Gia Lai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đề nghị chấp nhận việc trả lại tài sản là ô tô tải nhãn hiệu CHENGLONG, màu sơn bạc, biển số 29K-057.72 (xe ô tô tải 29K-057.72) cho Công ty TNHH TMDV và vận tải Q của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An theo quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 2753/QĐ-VPCQCSĐT ngày 15 tháng 4 năm 2025.
Đối với 01 (một) Giấy phép lái xe hạng C số 520174004492 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Bình Định cấp ngày 30/7/2024 mang tên Lê Văn H đang được lưu giữ theo hồ sơ, xác định là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên đề nghị trả lại cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
- Quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Văn T số tiền 62.000.000 đồng. Tại phiên tòa anh T vắng mặt, tuy nhiên căn cứ vào lời khai của anh T có trong hồ sơ vụ án thể hiện anh T đã được bị cáo bồi thường số tiền trên nên không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với thiệt hại là chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu Chenglong, màu sơn bạc, biển kiểm soát 29k-057.72 thuộc sở hữu của Công ty TNHH TMDV và vận tải Q, là chiếc xe của công ty giao cho bị cáo để chở giao nhận hàng, tuy nhiên trong quá trình sử dụng bị cáo đã gây ra tai nạn. Mặc dù xe ô tô có bị hư hỏng nhưng phía Công ty TNHH TMDV và vận tải Q không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên đề nghị không xem xét.
- Đối với thiệt hại của Công ty cổ phần đầu tư P, sau khi bị cáo gây tai nạn đã thiệt hại về tài sản với tổng số chi phí khắc phục hệ thống trạm thu phí thực tế hết tổng số tiền là 578.890.000 đồng (năm trăm bảy mươi tám triệu, tám trăm chín mươi nghìn đồng). Tại phiên tòa, đại diện cho công ty vắng mặt có lý do, căn cứ vào đơn xin xét xử vắng mặt cũng như quá trình điều tra thể hiện giữa công ty và bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận với nhau về mức bồi thường mà công ty yêu cầu và tại phiên tòa, bị cáo cũng đồng ý như đã thỏa thuận nên đề nghị hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này. Tại phiên tòa, bị cáo đã bồi thường cho công ty được số tiền 30.000.000 đồng.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa trình bày lời bào chữa: Đồng ý với đề nghị của viện kiểm sát về tội danh cũng như mức hình phạt, tuy nhiên đề nghị hội đồng xét xử cân nhắc xem xét cho bị cáo ở những tình tiết giảm nhẹ sau: Bị cáo hiện nay có hoàn cảnh gia đình gặp nhiều khó khăn, vợ đang nuôi con nhỏ và đang mang thai ở tháng thứ 7, bản thân bị cáo lại là lao động chính trong gia đình, nghề nghiệp không ổn định. Sau khi gây tai nạn bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Văn T và Công ty Cổ phần đầu tư P, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên đề nghị xử cho bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo là phù hợp.
Bị cáo không bổ sung lời tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt, xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và rất ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2-Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội, tội danh và khung hình phạt:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng truy tố, ý kiến luận tội của Đại diện Viện kiểm sát, phù hợp với sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, phương tiện, kết luận giám định, định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án...được xem xét và thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 04 giờ 45 phút ngày 18/01/2025, tại đường dẫn lối ra cao tốc Bắc - Nam thuộc địa phận xóm 5, xã N, huyện N (cũ), tỉnh Nghệ An, nay là xã T, tỉnh Nghệ An, Lê Văn H (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô tải 29K-057.72 trên làn đường dẫn lối ra cao tốc là đường hẹp, đi qua bốt gác của trạm thu phí nhưng do ngủ gật, thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ để đảm bảo an toàn nên đã để xe ô tô tải 29K-057.72 va chạm với giải phân cách giữa đường, va chạm với bốt gác trạm thu phí BOT của Công ty cổ phần đầu tư P, dẫn đến xe ô tô tải 29K-057.72 bị lật nghiêng sang trái; trạm thu phí BOT bị hư hỏng, trị giá thiệt hại là 488.700.000 đồng (Bốn trăm tám mươi tám triệu, bảy trăm nghìn đồng); làm anh Nguyễn Văn T (nhân viên trạm thu phí) bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 54% (Năm mươi tư phần trăm). Hành vi của Lê Văn H đã vi phạm điểm d, khoản 3 Điều 12 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến va chạm và gây thiệt hại về sức khỏe cũng như tài sản cho bị hại. Do đó lỗi trong vụ án tại nạn giao thông được xác định là do bị cáo gây ra nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cầu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội mà mình gây ra. Vì vậy, cáo trạng và ý kiến luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2-Nghệ An truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc tội phạm nghiêm trọng, với mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại về sức khỏe, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được việc khi tham gia giao thông không chấp hành quy tắc giao thông về việc thiếu chú ý quan sát, lái xe không tập trung, có biểu hiện ngủ gật. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt phù hợp tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi gây tai nạn bị cáo đã khắc phục hậu quả bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Văn T do tổn hại sức khỏe đầy đủ và đã bồi thường một phần cho Công ty cổ phần đầu tư P do bị thiệt hại về tài sản, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, hơn nữa bị cáo có hoàn cảnh gia đình gặp nhiều khó khăn, con còn nhỏ, hiện vợ đang mang thai ở tháng thứ 7, bản thân là lao động chính trong gia đình, nghề nghiệp không ổn định, gia đình bị cáo còn có ông nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, đề nghị của Đại diện viện kiểm sát, người bào chữa, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và việc không buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù không làm ảnh hưởng đến khả năng tự cải tạo của bị cáo và không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo, tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo, giáo dục dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đảm bảo công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước.
Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Xét thấy, bị cáo là công nhân lao động theo hợp đồng có thời hạn và là lao động chính trong gia đình, nếu áp dụng cấm làm công việc nhất định sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống chung của gia đình bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) Giấy phép lái xe hạng C số 520174004492 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Bình Định cấp ngày 30/7/2024 mang tên Lê Văn H - được lưu giữ theo hồ sơ vụ án. Xác định giấy tờ trên là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.
- 01 (một) xe ô tô tải nhãn hiệu CHENGLONG, màu sơn bạc, biển kiểm soát 29K-057.72 thuộc sở hữu của Công ty TNHH TMDV và vận tải Q là chiếc xe bị cáo sử dụng khi tham gia giao thông. Quá trình điều tra do công ty không yêu cầu giám định và định giá tài sản nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chủ sở hữu là phù hợp cần chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, bị hại anh Nguyễn Văn T vắng mặt. Tuy nhiên quá trình điều tra, anh T đã được bị cáo bồi thường số tiền 62.000.000 đồng do tổn thương sức khỏe nên không có ý kiến hay yêu cầu gì đối với bị cáo, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên tòa ông Chu Đức D là đại diện theo ủy quyền của công ty cổ phần đầu tư P vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt). Căn cứ vào lời khai trong quá trình điều tra, đơn yêu cầu bồi thường, đơn đề nghị xét xử vắng mặt đại diện cho công ty trình bày: Sau khi bị cáo gây tai nạn, phía công ty đã chi phí khắc phục hệ thống trạm thu phí BOT thực tế hết tổng số tiền là 578.890.000 đồng (năm trăm bảy mươi tám triệu, tám trăm chín mươi nghìn đồng), nay đại diện cho công ty yêu cầu bị cáo phải bồi thường toàn bộ số tiền trên. Theo biên bản làm việc ngày 23/7/2025 tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An thể hiện giữa bị cáo và công ty cổ phần đầu tư P đã thỏa thuận, bị cáo đồng ý trả toàn bộ số tiền bồi thường nói trên như công ty yêu cầu và tại phiên tòa bị cáo cũng đồng ý theo biên bản làm việc ngày 23/7/2025. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của bị cáo và công ty nên cần ghi nhận. Ngày 27 tháng 9 năm 2025, tại phiên tòa, bị cáo đã bồi thường được cho công ty cổ phần đầu tư P số tiền 30.000.000 đồng nên tổng số tiền bị cáo còn phải bồi thường là 548.890.000 đồng.
Đối với 01 (một) xe ô tô tải nhãn hiệu CHENGLONG, màu sơn bạc, biển kiểm soát 29K-057.72 của Công ty TNHH TMDV và vận tải Q giao cho bị cáo sử dụng để chở hàng, sau đó bị cáo gây tai nạn và làm bị hư hỏng, tuy nhiên Công ty không yêu cầu giám định và định giá thiệt hại đối với chiếc xe, đồng thời cũng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, do đó hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt:
- Hình phạt chính:
Xử phạt bị cáo Lê Văn H 01 (một) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 27 tháng 9 năm 2025.
Giao bị cáo Lê Văn H cho Uỷ ban nhân dân phường H, tỉnh Gia Lai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự : Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường của bị cáo cho công ty cổ phần đầu tư P với tổng số tiền 578.890.000 đồng (năm trăm bảy mươi tám triệu, tám trăm chín mươi nghìn đồng). Bị cáo đã trả được cho công ty số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng). Số tiền còn lại buộc bị cáo phải bồi thường cho công ty cổ phần đầu tư P là 548.890.000 đồng (năm trăm bốn mươi tám triệu, tám trăm chín mươi nghìn đồng).
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 (một) Giấy phép lái xe hạng C số 520174004492 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Bình Định cấp ngày 30/7/2024 mang tên Lê Văn H (hiện đang được lưu giữ theo hồ sơ vụ án).
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự 12.977.800 đồng.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND khu vực 2; - THA dân sự, THA hình sự; - Lưu hồ sơ./. | TM. héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ Phïng ThÞ Hư¬ng Giang |