vanban.org

Bản án 19/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Quang N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Lâm Đồng là nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Quang Nam phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 2…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Quang N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HS-ST
Ngày: 27 - 11 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hoài

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Phú và ông Vũ Đức Năm

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Nguyên Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đắk Lắk

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Phan Như Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Quang N (Tên gọi khác: Không) - Sinh năm 1986, tại: Tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Quang H và con bà Lê Thị L. Bị cáo có vợ là Phan Thị B, sinh năm 1989 (Đã ly hôn vào năm 2020), có 03 con, lớn nhất sinh năm 2007 và nhỏ nhất sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Hiện nay bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Bà H Lĕ B1, sinh năm 1952; Địa chỉ: Buôn N, xã E, tỉnh Đắk Lắk (Đã

chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại bà H Lĕ B1: Anh Y Niu Buôn Y, sinh

năm 1974; Địa chỉ: Buôn N, xã E, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).

2. Bà H Nguôi A L1, sinh năm 1944; Địa chỉ: Buôn N, xã E, tỉnh Đắk Lắk

(Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Trường S, sinh năm 1972; Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường T, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

- Người làm chứng:

1. Chị Nguyễn Thị S1, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn G, xã E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

2. Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn E, xã E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

3. Chị Nguyễn Thị Thùy T1, sinh năm 1980; Địa chỉ: Buôn N, xã E, tỉnh

Đắk Lắk (Vắng mặt).

- Người phiên dịch: Ông Bun X Ê Ban, sinh năm 1968; Nơi cư trú: Buôn A, xã E, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ 00 phút ngày 23/04/2025, Lê Quang N (sinh năm 1986, trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - nay là xã Đ, tỉnh Lâm Đồng) điều khiển xe ô tô biển số 47A – 652.87 chở chị Nguyễn Thị S1 (sinh năm 1989, trú tại: thôn G, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk - nay là thôn G, xã E, tỉnh Đắk Lắk) ngồi ở ghế phụ phía trước bên phải xuất phát từ nhà của S1 ở thôn G, xã E đến phường B. Đến khoảng 06 giờ 58 phút cùng ngày, xe ô tô do N điều khiển đi đến đoạn đường Tỉnh lộ 1 thuộc Buôn N, xã E, tỉnh Đắk Lắk với tốc độ khoảng 65km/h. Do thiếu chú ý quan sát, không làm chủ được tốc độ nên đã để phía trước bên trái xe ô tô biển số 47A – 652.87 va chạm với người đi bộ đang sang đường là bà H Lĕ B1 (sinh năm 1952) và bà H Nguôih A (sinh năm 1944) cùng trú tại: Buôn N, xã E, tỉnh Đắk Lắk (hướng từ phải sang trái theo chiều lưu thông của N). Sau khi xảy ra va chạm, N đã điều khiển xe ô tô biển số 47A – 652.87 đưa bà H Lĕ Byă và bà H Nguôih Aliŏ đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ. Do bị thương tích nặng nên đến tối cùng ngày bà H Lĕ Byă tử vong

Tại Kết luận giám định tử thi số: 680/KLGĐTT-KTHS ngày 06/06/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận nguyên nhân tử vong của bà H Lĕ Byă là do: Chấn thương sọ não.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 394/KLTTCT-PY ngày 24/06/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ, kết luận.

Tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà H Nguôi A1 tại thời điểm giám định là: 5% (Năm phần trăm).

- Vật tác động và cơ chế hình thành thương tích: Các vết xây xát da cẳng tay trái và cẳng chân phải do va chạm trực tiếp với vật tày diện rộng có bề mặt không bằng phẳng gây nên theo cơ chế chà xát, mài mòn.

Tại Kết luận giám định số: 1039/KL-KTHS ngày 24/06/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận số khung, số máy của xe ô tô mang biển số 47A – 652.87, không thay đổi.

Tại Kết luận giám định số: 1040/KL-KTHS ngày 24/06/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận tập tin video gửi giám định không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh.

Tại Kết luận giám định số: 339/KL-KTHS ngày 29/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận.

- Dấu vết nứt vỡ nhựa ở mặt ngoài bên trái mặt calăng của xe ô tô biển số 47A – 652.87 có chiều hướng từ trước ra sau. Dấu vết hình thành do va chạm với vật tày cứng (ảnh 4 trong bản ảnh giám định).

- Dấu vết móp lún, biến dạng kim loại ở mặt trên bên trái nắp capo phía trước của xe ô tô biển số 47A – 652.87 có chiều hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới. Dấu vết hình thành do va chạm với vật tày cứng (ảnh 5 trong bản ảnh giám định).

- Không đủ cơ sở kết luận các dấu vết còn lại có ở xe ô tô biển số 47A – 652.87 được ghi nhận, mô tả trong “Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông” của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ.

Tại Phiếu kết quả xét nghiệm ngày 24/04/2025 của Bệnh viện Đ1 đối với Lê Quang N, cho kết quả: Định lượng Ethanol (cồn) trong máu: 0.0 mmol/L. Âm tính với chất ma túy.

Tại phiếu trả lời xác minh xe ngày 25/6/2025 của Phòng C Công an tỉnh Đ: xe ô tô mang biển số 47A – 652.87 ngày đăng ký 18/12/2023; Chủ xe: Nguyễn Trường S; Địa chỉ: trú tại: tổ dân phố A, phường K, TP ., tỉnh Đắk Lắk (nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk), (BL 84).

Tại biên bản xác minh giấy phép lái xe của Phòng C Công an tỉnh Đ ngày 15/7/2025 thể hiện: Lê Quang N – sinh ngày: 01/01/1986, nơi ĐKHKTT: Đ, Đ, Đắk Nông đã có Giấy phép lái xe ô tô hạng C, số: 670248010071, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp vào ngày 26/09/2024, có giá trị đến ngày: 26/09/2029.

Tại bản cáo trạng số: 07/CT-VKS ngày 03/11/2025 Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Đắk Lắk, đã truy tố Lê Quang N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Quang N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Đắk Lắk đã phân tích, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Quang N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Quang N mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng số 9618/QĐ-VPCQCSĐT(Đ3) ngày 26/9/2025. Trả lại 01 (một) xe ô tô biển số 47A – 652.87, nhãn hiệu: TOYOTA, số loại: RUSH, màu: Đỏ, loại xe: Ô tô con, số máy: 2NRF734956, số khung: MHKE8FF3VJK000677 cho anh Nguyễn Trường S là chủ sở hữu hợp pháp tiếp tục quản lý và sử dụng.

Đề nghị tiếp tục tạm giữ trong hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa DVD-R màu trắng, lưu giữ đoạn video ghi nhận được một phần diễn biến của vụ việc.

Đề nghị trả 01 (một) giấy phép lái xe ô tô hạng C, số: 670248010071, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp vào ngày 26/09/2024, có giá trị đến ngày: 26/09/2029, mang tên Lê Quang N nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo quá trình thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Lê Quang N đã hỗ trợ tiền chi phí mai táng cho gia đình bị hại bà H Lĕ Byă số tiền 80.000.000 đồng. Bồi thường cho bị hại bà H Nguôih Aliŏ số tiền 5.000.000 đồng. Gia đình bị hại không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra giải quyết.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Quang N không bào chữa tranh luận gì, chỉ đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, của Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị hại bà H Nguôih A2; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Trường S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Người làm chứng chị Nguyễn Thị S1, anh Nguyễn Hữu T, chị Nguyễn Thị Thùy T1 vắng mặt không có lý do, nhưng tại Cơ quan điều tra đã có lời khai, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng tới quá trình xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản tạm giữ phương tiện, tang vật, với bản kết luận giám định pháp y về tử thi và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở khẳng định:

Do không tuân thủ đúng các quy định về tham gia giao thông đường bộ nên khoảng 05 giờ 00 phút ngày 23/04/2025, Lê Quang N điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 47A – 652.87 lưu thông trên đoạn đường từ xã E đến phường B. Đến khoảng 06 giờ 58 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường Tỉnh lộ 1 thuộc Buôn N, xã E, tỉnh Đắk Lắk, do thiếu chú ý quan sát, không làm chủ được tốc độ nên xe ô tô của N điều khiển đã va chạm với bà H Lĕ B1 và bà H Nguôih A2 đang đi bộ đang sang đường từ bên phải sang bên trái theo hướng đi của xe ô tô biển kiểm soát 47A – 652.87. Hậu quả bà H Lĕ Byă tử vong, bà H N1 Aliŏ bị thương tích 5%.

Do vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Điều 260 của Bộ luật Hình sự, quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Đắk Lắk truy tố bị cáo Lê Quang N theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất mức độ hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, tính mạng của người khác dẫn đến thiệt hại xảy ra không thể khắc phục, gây tâm lý lo sợ cho người dân, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo gây ra.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự : Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Quang N đã bồi thường cho gia đình bị hại bà H Lĕ Byă số tiền 80.000.000 đồng, bồi thường cho bị hại bà H Nguôih Aliŏ số tiền 5.000.000 đồng; Trong quá trình điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị hại bà H Nguôih Aliŏ và người đại diện hợp pháp cho bị hại bà H Lĕ Byă là anh Y N2 Buôn Yă có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để theo dõi, giám sát cũng đảm bảo việc giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội, có ý thức tôn trọng pháp luật và cũng nhằm mục đích đấu tranh phòng ngừa chung.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng số 9618/QĐ-VPCQCSĐT(Đ3) ngày 26/9/2025. Trả lại 01 (một) xe ô tô biển số 47A – 652.87, nhãn hiệu: TOYOTA, số loại: RUSH, màu: Đỏ, loại xe: Ô tô con, số máy: 2NRF734956, số khung: MHKE8FF3VJK000677 cho anh Nguyễn Trường S là chủ sở hữu hợp pháp tiếp tục quản lý và sử dụng là phù hợp.

Tiếp tục tạm giữ trong hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa DVD-R màu trắng, lưu giữ đoạn video ghi nhận được một phần diễn biến của vụ việc là phù hợp.

Đề nghị trả 01 (một) giấy phép lái xe ô tô hạng C, số: 670248010071, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp vào ngày 26/09/2024, có giá trị đến ngày: 26/09/2029, mang tên Lê Quang N là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại bà H Lĕ Byă số tiền 80.000.000 đồng, bồi thường cho bị hại bà H Nguôih Aliŏ số tiền 5.000.000 đồng và bị hại không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Quang N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Quang N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Quang N 01 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Lâm Đồng là nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại bà H Lĕ Byă số tiền 80.000.000 đồng, bồi thường cho bị hại bà H Nguôih Aliŏ số tiền 5.000.000 đồng và bị hại không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận việc cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng số 9618/QĐ-VPCQCSĐT(Đ3) ngày 26/9/2025. Trả lại 01 (một) xe ô tô biển số 47A – 652.87, nhãn hiệu: TOYOTA, số loại: RUSH, màu: Đỏ, loại xe: Ô tô con, số máy: 2NRF734956, số khung: MHKE8FF3VJK000677 cho anh Nguyễn Trường S là chủ sở hữu hợp pháp tiếp tục quản lý và sử dụng.

Tiếp tục tạm giữ trong hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa DVD-R màu trắng, lưu giữ đoạn video ghi nhận được một phần diễn biến của vụ việc.

Trả lại 01 (một) giấy phép lái xe ô tô hạng C, số: 670248010071, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp vào ngày 26/09/2024 cho Lê Quang N.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 04/11/2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ và Thi hành án dân sự tỉnh Đ).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Quang N phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo; Người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm ngày) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm ngày) kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ