vanban.org

Bản án 19/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 10 - Nghệ An, tỉnh Nghệ An Tuyên án 24/10/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Xử phạt: Vi Văn G - 3 (Ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 04/08/2025. [2] Áp dụng Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 - NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HS-ST
Ngày 24-10-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Huyền Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lô Thị Hà

Bà Lương Thị Huân

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Vận - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 10 - Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trần Hoàng Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 24/10/2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 10 – Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 09 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST-HS ngày 13/10/2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Vi Văn G, tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 15/07/2003 tại xã T, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Bản M, xã T, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, đoàn thể, chính quyền): Không; Họ và tên cha: Chưa xác định được; Con bà Vi Thị T (Đã chết); Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/08/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại phân trại tạm giam khu vực Thái Hoà, Công an tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Quỳnh T – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Người chứng kiến: Anh Quang Văn T, sinh năm: 1986. Trú tại: Bản N, xã T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 04/8/2025, Vi Văn G, sinh năm 2003, đi bộ từ nhà tại bản M, xã T, tỉnh Nghệ An đến bản N, xã T, tỉnh Nghệ an để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến khu vực cổng chào bản N, xã T, tỉnh Nghệ An, G gặp một người đàn ông không quen biết. Sau khi hỏi, biết người đàn ông này có ma túy để bán nên G mua của người này một gói ma túy bên ngoài bọc bằng mảnh giấy màu trắng, bên trong bọc bằng bao nilon màu hồng có chứa chất bột màu trắng với giá 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy G mở ra nếm thử một ít, rồi gói lại cầm trong lòng bàn tay phải đi bộ về nhà. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, khi G đi đến Quốc lộ 48 thuộc địa phận bản N, xã T, tỉnh Nghệ An thì gặp Tổ công tác Công an xã Tiền Phong đang làm nhiệm vụ. Thấy vậy, G thả gói ma túy vừa mua được đang cầm trong tay xuống đất thì bị Tổ công tác Công an xã Tiền Phong phát hiện, bắt giữ. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng, đưa đối tượng về trụ sở làm việc và sau đó chuyển vụ việc cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An để điều tra làm rõ.

Tại bản Kết luận giám định số: 312/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 08/08/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Vi Văn G gửi giám định là ma tuý; loại Heroin, có tổng khối lượng là 0,28g (không phẩy hai tám mươi tám gam)”

Bản cáo trạng số 13/CT-VKS-KV10 ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Nghệ An đã truy tố Vi Văn G về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố Vi Văn G như bản Cáo trạng đã kết luận và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo: Vi Văn G, mức án từ 03 (Ba) đến 03 (ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa không có ý kiến tranh luận về tội danh và mức hình phạt, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ đó là khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo lần đầu phạm tội và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt: 03 (Ba) năm tù, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Nghệ An, quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

. Hành vi phạm tội của bị cáo:

Đối chiếu với lời khai của bị cáo tại phiên toà là phù hợp với biên bản bắt người người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định chất ma tuý số: 312/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 08/08/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An; phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng khác tại Cơ quan điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ, lời khai khác có trong hồ sơ, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 14 giờ, ngày 04/8/2025 tại khu vực bản N, xã T, tỉnh Nghệ An, bị cáo Vi Văn G đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,28 (Không phẩy hai mươi tám) gam ma tuý loại Heroin với mục đích để sử dụng.

Hành vi tàng trữ ma tuý của bị cáo thực hiện vào ngày 04/08/2025 sau 0 giờ ngày 01/07/2025. Vì vậy hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 có khung hình phạt từ 03 năm đến 05 năm tù. Như vậy quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Nghệ An đối với bị cáo về tội danh và điều, khoản, điểm nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã cố ý thực hiện tội phạm nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tội phạm. Vì vậy việc cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định là cần thiết.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Sau khi phạm tội bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình gây ra nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử nhận thấy: Cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm giáo dục và răn đe bị cáo.

Về vật chứng vụ án: 0,28 gam Heroin đưa đi giám định đã hết. Cần tịch thu tiêu huỷ: Phong bì thư bưu điện bên trong có chứa mảnh bao nilon màu hồng, mảnh giấy màu trắng cùng vỏ bao niêm phong vật chứng ban đầu.

Đối với người đàn ông bán ma tuý cho bị cáo Vi Văn G. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

Đề nghị mức hình phạt tù có thời hạn của Đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa là phù hợp.

Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Xử phạt: Vi Văn G - 3 (Ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 04/08/2025.

[2] Áp dụng Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ: Mảnh vỏ bao nilon màu hồng, mảnh giấy màu trắng cùng mảnh vỏ bao niêm phong vật chứng ban đầu được niêm phong lại bằng một phong bì thư dán kín.

Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/09/2025 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 - Nghệ An.

[3] Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH, bị cáo Vi Văn G phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 24/10/2025./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND, VKSND tỉnh NA;

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKS Khu vực 10 - Nghệ An;

- Bị cáo, Phân Trại TG Thái Hoà;

- Người bào chữa;

- UBND xã T;

- Công an tỉnh Nghệ An;

- Phòng THADS khu vực 10;

Lương Huyền Anh

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

Cỡ chữ