vanban.org

Bản án 19/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 28/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Phí Thanh Đphạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Phí Thanh Đ 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/4/2025 đến ngày 23/4/2025. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giữ 01 giấy phép lái xe ô tô hạng A1, E số 340136001789 cấp ngày 22/11/… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phí Thanh Đphạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Phí Thanh Đphạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HS-ST
Ngày 28/8/2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thái

Ông Nguyễn Duy Cừ

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trí Dương –Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1-Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Lê Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2025; Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 302/TB-TA ngày 25/8/2025, đối với bị cáo:

Phí Thanh Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 11/4/1993, tại xã N, tỉnh Hưng Yên; Số CCCD: 034093019393; Nơi cư trú: Thôn T, xã N, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 11/12; Con ông Phí Văn T và bà Phạm Thị Q; Vợ: Vũ Thị Mai H và có 02 con, đứa lớn nhất sinh năm 2015, đứa nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền sự, tiền án: Không; Bị tạm giữ từ ngày 14/4/2025 đến ngày 23/4/2025 được thay thể biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

- Bị hại:

1. Ông Lâm Phúc T1, sinh năm 1952; số CCCD: 042052008070; Trú tại: tổ dân phố T, phường H, tỉnh Hà Tĩnh, đã chết.

2. Ông Phạm Hồng T2, sinh năm 1949; Số CCCD: 042049006661; Trú tại: thôn M, xã C, tỉnh Hà Tĩnh, đã chết.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Anh Lâm Phúc C, sinh năm 1986, số CCCD: 042086007436; nghề nghiệp: lái xe; Địa chỉ: tổ dân phố T, phường H, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt.

2. Anh Phạm Hồng H1, sinh năm 1978, số CCCD: 042078011019; nghề nghiệp: làm ruộng; Địa chỉ: thôn M, xã C, tỉnh Hà Tĩnh, đề nghị xét xử vắngmặt.

- Bị đơn dân sự: Anh Dương Xuân B, sinh năm 1984, số CCCD: 034084021495, nghề nghiệp: kinh doanh vận tải; Địa chỉ: số A, đường A, khu đô thị T, xã K, tỉnh Hưng Yên, đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lâm Thị T3, sinh năm 1980, số CCCD: 042180009706, nghề nghiệp: lao động tự do; Địa chỉ: tổ dân phố C, xã T, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Đỗ Quốc C1, sinh năm 1989, Số CCCD: 034089004304; Địa chỉ: số A, L, tổ C, phường T, tỉnh Hưng Yên, vắng mặt.

2. Anh Vũ Công K, sinh năm 1973, số CCCD: 034073003202; Địa chỉ: thôn T, xã B, tỉnh Hưng Yên, vắng mặt.

3. Anh Dương Xuân C2, sinh năm 1988, Số CCCD: 034088011089; Địa chỉ: tổ dân phố T, xã K, tỉnh Hưng Yên, vắng mặt.

4. Anh Bùi Văn L, sinh năm 1988, Số CCCD: 04208818678 Địa chỉ: Thôn K, phường H, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 14/4/2025, Phí Thanh Đ (có giấy phép lái xe ô tô hạng A1, E) điều khiển xe ô tô khách biển kiểm soát 17H-032.93 của nhà xe X đi theo đường Quốc lộ 1 tuyến tránh thành phố H theo hướng Nam ra B về thành phố T, tỉnh Thái Bình (cũ). Khi đến Km13 thuộc địa phận thôn L, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (nay là thôn L, phường H, tỉnh Hà Tĩnh), Đ thấy ông Lâm Phúc T1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38M1-126.22 chở ông Phạm Hồng T2 di chuyển trên đường liên thôn K đi thôn L, phường H, tỉnh Hà Tĩnh theo hướng ra đường Quốc lộ 1 tuyến tránh thành phố H. Khi xe ô tô do Đ điều khiển cách nơi giao nhau giữa đường Quốc lộ 1 tuyến tránh thành phố H với đường liên thôn K đi thôn L khoảng 15 đến 20 mét thì xe mô tô do ông Lâm Phúc T1 cũng di chuyển đến mép đường Quốc lộ 1 tuyến tránh thành phố H, Đình nhả chân ga và điều khiển xe ô tô tiến về phía trước mà không giảm tốc độ. Khi thấy ông T1 điều khiển xe mô tô đi sang đường thì Đình đạp phanh và đánh lái sang phải tuy nhiên va chạm vẫn xảy ra. Xe ô tô do Đ điều khiển tiếp tục di chuyển về phía trước khoảng 29 mét thì dừng lại. Hậu quả, ông Lâm Phúc T1 và ông Phạm Hồng T2 bị tử vong, hai phương tiện bị hư hỏng một số bộ phận.

Tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông trong điều kiện khí hậu thông thoáng, ánh sáng tự nhiên đủ điều kiện tiến hành khám nghiệm. Hiện trường vụ tai nạn giao thông bị xáo trộn một phần do hoạt động đi lại của phương tiện giao thông, quá trình di chuyển của người dân.

Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông được xác định tại Km13 Quốc lộ A tuyến tránh thành phố H, thuộc địa phận thôn L, phường H, tỉnh Hà Tĩnh (đường ưu tiên) nơi giao nhau với đường liên thôn L - K (đường không ưu tiên). Đường Quốc lộ 1 tuyến tránh thành phố H nơi xảy ra vụ tai nạn là đường hai chiều, được phân chia bằng vạch kẻ màu vàng dạng đứt đoạn; mỗi chiều đường có 2 làn đường, được phân chia bằng vạch trắng dạng đứt đoạn; mặt đường được trải thảm nhựa tương đối bằng phẳng, không có chướng ngại vật, không bị che khuất tầm nhìn; Mặt đường rộng 11,2m, chiều đường hướng đi N - Bắc rộng 5,7m được chia thành hai làn đường, làn đường bên phải sát với lề đường của chiều đường theo hướng N - Bắc là 2,2m, làn đường phía trong sát với vạch kẻ tim đường rộng 3,5m. Phía trước khu vực xảy ra tai nạn, bên phải lề đường Quốc lộ 1 tuyến tránh thành phố H hướng từ N ra B có biển báo giao nhau với đường không ưu tiên (biển ký hiệu W.207a).

Đường vào thôn L nằm bên phải (hướng Nam ra B), được làm bằng bê tông, phần tiếp giáp với Quốc lộ A tuyến tránh thành phố H bằng con dốc lên rộng 8,6 m, bên phải lề đường (theo hướng L đi K) có cắm biển báo giao nhau với đường ưu tiên (biển ký hiệu W.208). Đường vào thôn K nằm bên trái (hướng N ra B), được thảm nhựa, phần tiếp giáp với đường Quốc lộ bằng con dốc lên rộng 11,6 m, bên phải lề đường (theo hướng Kỷ Các đi L) có cắm biển báo giao nhau với đường ưu tiên (biển ký hiệu W.208).

Lấy cột mốc có ký hiệu “QL1 THT Km13 HUẾ 315 km” được cắm cố định ở lề đường bên trái của đường Quốc lộ 1 (tuyến tránh thành phố H) theo hướng Nam ra B làm điểm mốc cố định; Lấy mép đường bên phải của đường Quốc lộ 1 (tuyến tránh thành phố H) theo hướng Nam ra B làm mép chuẩn.

Dấu vết cày đứt đoạn, không liên tục, dài 29m, đoạn rộng nhất ở điểm đầu 0,62m; chiều hướng từ Nam ra B; điểm đầu vết cày cách mốc cố định 12,4 m, cách mép đường chuẩn 3,5 m; điểm cuối vết cày cách mép đường chuẩn 2,6 m, trùng với vị trí trục bánh sau của xe mô tô mang biển kiểm soát 38M1-126.22 (Ký hiệu 1). Vùng mảnh vỡ có kích thước 12,9m x 3m, tâm cách mép đường chuẩn 5,4m, cách đầu vết cày 15,1m. (Ký hiệu 2). Tử thi thứ nhất nằm sấp, đầu hướng phía Tây Nam, chân hướng phía Đông Bắc, tay phải co che mặt, tay trái duỗi theo thân người, đỉnh đầu cách mép đường chuẩn 5,4m, trùng với tâm vùng mảnh vỡ. (Ký hiệu 3). Xe ô tô mang biển kiểm soát 17H-032.93 đỗ bên phải chiều đường từ Nam ra B của Quốc lộ A (tuyến tránh thành phố H), đầu xe hướng Bắc, đuôi xe hướng Nam, trục ngoài bánh sau bên trái cách mép đường chuẩn 2,5m, cách đỉnh đầu tử thi thứ nhất 3,6m; trục ngoài bánh trước bên trái cách mép đường chuẩn 2,2m. (Ký hiệu 4). Tử thi thứ 2 nằm ngửa, đầu hướng phía Bắc, chân hướng về N, hai tay duỗi theo dọc cơ thể; đỉnh đầu cách mép đường chuẩn 3,3m, cách tâm trục bánh sau bên trái xe ô tô 8,5m; chân trái cách mép chuẩn 2,9m. (Ký hiệu 5). Xe mô tô mang biển kiểm soát 38M1-126.22 nằm ngã nghiêng bên trái, đầu xe hướng Đông, đuôi xe hướng N, xe mô tô nằm kẹt dưới gầm xe ô tô khách, phần sau của xe mô tô hướng ra ngoài; trục bánh trước xe mô tô cách mép đường chuẩn 1,5m, cách đỉnh đầu tử thi thứ 2 là 1,2m; trục bánh sau xe mô tô cách mép đường chuẩn 2,6m. (Ký hiệu 6).

Biên bản khám nghiệm xe mô tô biển kiểm soát 38M1-126.22 phản ánh: Ốp phía trước tay lái bị nứt vỡ, bung rời khỏi phương tiện; Cụm đèn phía trước bị nứt vỡ, kích thước 20cm x 20cm; mặt nạ bị gãy, bung rời khỏi phương tiện; đèn xi nhan phía trước ở bên trái bị nứt vỡ, kích thước 40cm x 13cm; tay lái bên trái bị cong gập theo chiều hướng từ trái sang phải, trên bờ cong gập bị mài trượt kim loại, kích thước 24cm x 4cm; cánh yếm bên trái bị mài trượt, nứt vỡ nhựa, kích thước 65cm x 33cm; tay lái bên phải bị trượt xước kim loại, cao su, có bám dính chất màu xanh dạng sơn, kích thước 16cm x 3cm, chiều hướng từ phải sang trái, tâm dấu vết cách mặt đất 88cm; tay phanh bên phải bị trượt xước kim loại, bám dính chất màu xanh dạng sơn, kích thước 17cm x 8cm; cánh yếm bên phải bị trượt xước, mài trượt nhựa, bám dính dầu mỡ, kích thước 60cm x 20cm; phần bên phải giá để chân phía trước bị móp méo, nứt vỡ nhựa, kích thước 50cm x 18cm; ốp sườn thân xe bên phải bị nứt vỡ, trượt xước, bám dính chất màu xanh dạng sơn, kích thước 80cm x 20cm; ốp nhựa phía dưới ốp sườn bên phải bị gãy, bung rời khỏi phương tiện; giá để chân phía sau bên phải bị cong gập theo chiều hướng từ phải sang trái, trên bề mặt bám dính chất màu xanh dạng sơn, kích thước 8cm x 3cm, tâm dấu vết cách mặt đất 30cm; ống xả bị móp méo, trượt xước, bám dính chất màu xanh dạng sơn, kích thước 27cm x 19cm, chiều hướng từ phải sang trái, tâm dấu vết cách mặt đất 25cm; mặt bên trái yên xe bị mài trượt cao su, kích thước 25cm x 8cm; ốp sườn bên trái thân xe bị mài trượt, nứt vỡ nhựa, kích thước 50cm x 30cm; giá để chân phía sau bên trái bị mài trượt kim loại, cao su, bám dính chất màu trắng dạng bột đá, kích thước 11cm x 3cm; cần đề khởi động động cơ bị mài trượt kim loại, bám dính bột màu trắng dạng đá kích thước 20cm x 3cm, phần bên trái chân chống giữa bị mài trượt kim loại, có bám dính bột dạng đá, kích thước 13cm x 4cm; ốp bảo vệ dây cu roa bị thủng, trượt xước, bám dính chất màu trắng dạng bột đá, kích thước 30cm x 15cm; hộp bảo vệ lọc gió bị mài trượt nhựa, kích thước 20cm x 8cm; góc bên trái tay nâng bị mài trượt kim loại, kích thước 8cm x 2cm.

Biên bản khám nghiệm xe ô tô biển kiểm soát 17H-032.93 phản ánh: Kính chắn gió phía trước bị nứt vỡ, kích thước 120cm x 115cm, chiều từ trước ra sau, tâm dấu vết cách mặt đất 142cm, cách mép trái thành xe ô tô 35cm; Ba đơ xốc phía trước, tại vị trí cách mép trái 64cm bị thủng, trượt xước, bong tróc sơn, kích thước 11cm x 10 cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm cách mặt đất 88cm; phần giữa ba đơ xốc phía trước bị bung rời; Cụm đèn phía trước bên trái bị nứt, vỡ nhựa, kích thước 30cm x 45cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu cách mặt đất 75cm, góc bên trái ba đờ xốc phía trước bị nứt vỡ, trượt xước, bong tróc sơn, kích thước 55cm x 56cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu vết cách mặt đất 55cm; Đèn gầm phía trước bên trái bị nứt vỡ, kích thước 22cm x 10cm, mặt dưới gầm xe bên trái bị trượt xước, kích thước 80cm x 70cm, chiều hướng từ trước ra sau.

Biên bản khám nghiệm tử thi do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H lập hồi 09 giờ 10 phút ngày 14/4/2025 phản ánh: Tử thi nam giới, được xác định là ông Lâm Phúc T1, sinh năm 1952, trú tại thôn T, phường H, tỉnh Hà Tĩnh; Thể tạng: Trung bình; chiều dài đỉnh gót: 166cm; Tình trạng tử thi: Lạnh; Đặc điểm trang phục và vật dụng mang theo: Tử thi lúc khám nghiệm mặc áo khoác màu đen, bên trong mặc áo sơ mi dài tay màu xanh cỏ úa; phía dưới mặc quần dài màu nâu, bên trong mặc quần đùi màu xám; Mũi có máu chảy ra; Gãy cung tiếp gò má phải; Gãy xương hàm trên hai bên, gãy xương hàm dưới; Trật đốt sống cổ C4, C5; Gãy kín xương đòn trái; Tràn khí dưới da vùng ngực hai bên; Gãy sập toàn bộ hệ thống khung sườn hai bên; Mặt sau khuỷu tay phải có vết bầm tụ máu, kích thước: 2cm x 1cm; Mặt sau khuỷu tay trái có vết bầm tụ máu, kích thước: 1,5cm x 1,5cm; Mu bàn tay hai bên có một số vết xây xát da; Mặt trước trong 1/3 giữa đùi phải có vết bầm tụ máu, kích thước: 6cm x 4cm; tại vị trí này xương đùi phải bị gãy.

Biên bản khám nghiệm tử thi do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H lập hồi 09 giờ 50 phút ngày 14/4/2025 phản ánh: Tử thi nam giới, được xác định là ông Phạm Hồng T2, sinh năm 1949, trú tại thôn M, xã C, tỉnh Hà Tĩnh; Thể tạng: Trung bình; chiều dài đỉnh gót: 158cm; Tình trạng tử thi: Lạnh; Đặc điểm trang phục và vật dụng mang theo: Tử thi lúc khám nghiệm mặc áo sơ mi dài tay màu xanh cỏ úa, bên trong mặc áo thun màu xám; phía dưới mặc quần dài màu nâu, bên trong mặc quần đùi màu xanh da trời; Vùng trán bên phải, cách trên đuôi lông mày phải 2cm có đám xây xát da, sưng nề, bầm tụ máu trên diện: 8cm x 7cm; Hốc mắt phải bầm tụ máu; Môi trên, môi dưới bầm dập, tụ máu; Khóe miệng phải có vết xây xát da, bầm tụ máu, kích thước: 3cm x 3cm; Gãy xương hàm dưới; Vùng ngực phải, cách dưới núm vú phải 2cm có đám bầm tụ máu, kích thước: 8cm x 6cm; Gãy kín cung trước xương sườn số 3, 4, 5, 6 bên phải; Mu bàn tay hai bên có một số vết xây xát da, bầm tụ máu; Mặt trước gối trái có vết mài da, kích thước: 2cm x 1cm; Gãy hở 1/3 giữa hai xương cẳng chân phải; Mu bàn chân và ngón chân phải dập nát, biến dạng. Giải phẫu vùng đầu: Tụ máu dưới da đầu vùng trán - thái dương phải; Vỡ xương hộp sọ vùng trán - thái dương phải.

Bản kết luận giám định tử thi số 533/KL-KTHS ngày 15/4/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: Nguyên nhân chết của ông Phạm Hồng T2 là do Chấn thương sọ não.

Bản kết luận giám định tử thi số 534/KL-KTHS ngày 15/4/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: Nguyên nhân chết của ông Lâm Phúc T1 là do Đ1 chấn thương.

Bản kết luận giám định số 543/KL-KTHS ngày 18/4/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận: Xe ô tô mang biển kiểm soát 17H - 032.93 và xe mô tô mang biển kiểm soát 38M1 - 126.22 có va chạm với nhau. Vị trí va chạm giữa hai phương tiện: Phần bên trái nắp ca pô phía trước (vị trí cách mép bên trái thành xe 64cm) xe ô tô va chạm với tay lái và phanh tay bên phải xe mô tô; Góc bên trái ba đơ xốc phía trước, cụm đèn phía trước bên trái xe ô tô va chạm với ốp sườn bên phải, giá để chân phía sau bên phải, ống xả xe mô tô. Vị trí va chạm giữa xe ô tô mang biển soát 17H-032.93 và xe mô tô biển kiểm soát 38M1-126.22 nằm trên phần đường bên phải, đường tránh thành phố, thuộc xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh theo chiều từ N ra B.

Bản kết luận định giá tài sản số 312/KL-HĐĐG ngày 26/5/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên cấp tỉnh trong tố tụng tỉnh Hà Tĩnh, kết luận: Tổng giá trị thiệt hại của những bộ phận bị hư hỏng của xe ô tô nhãn hiệu Thaco, biển kiểm soát 17H - 032.93 do tai nạn giao thông là 41.217.000 đồng. Tổng giá trị thiệt hại của những bộ phận bị hư hỏng của xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 38M1 - 126.22 là 15.899.000 đồng.

Biên bản kiểm tra nồng độ cồn lập hồi 10 giờ 35 phút ngày 14/4/2025 và biên bản kiểm tra chất ma túy ngày 14/4/2025, kết quả: Phí Thanh Đình không có nồng độ cồn và âm tính với chất ma túy.

Phiếu xét nghiệm hóa sinh nồng độ cồn hồi 12 giờ 14 phút ngày 14/4/2025 của Bệnh viện Đ2, kết quả: ông Lâm Phúc T1 có sử dụng rượu (theo kết quả xét nghiệm định lượng Ethanol (cồn) trong máu của ông Lâm Phúc T1 là 6.83mmol/L).

Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKS-KV1 ngày 16/7/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh đã truy tố Phí Thanh Đình về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát luận tội giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Phí Thanh Đ từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 14/04/2025 đến ngày 23/04/2025. Áp dụng khoản 5 Điều 260, Điều 41 Bộ luật Hình sự cấm Phí Thanh Đình hành nghề lái xe thời hạn từ 12 đến 15 tháng kể từ ngày bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giữ 01 giấy phép lái xe ô tô hạng A1, E số 340136001789 cấp ngày 22/11/2023 mang tên Phí Thanh Đ trong thời gian chấp hành án phạt tù và bị cấm hành nghề.

Tại phần tranh luận, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác xuất trình tài liệu chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đầy đủ chứng cứ kết luận: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 14/4/2025, tại khu vực Km13 Quốc lộ A tuyến tránh thành phố H thuộc địa phận thôn L, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (nay là thôn L, phường H, tỉnh Hà Tĩnh) Phí Thanh Đ điều khiển xe ô tô khách biển kiểm soát 17H-032.93, khi đi đến đoạn đường có biển báo giao nhau với đường không ưu tiên, Đình thiếu chú ý quan sát và không chủ động giảm tốc độ nên đã va chạm với xe mô tô do ông Lâm Phúc T1 điều khiển chở theo ông Phạm Hồng T2. Hậu quả, ông Lâm Phúc T1 và ông Phạm Hồng T2 bị tử vong.

Hành vi của Phí Thanh Đ đã vi phạm quy tắc an toàn khi tham gia giao thông đường bộ quy định tại điểm b khoản 3 Điều 12 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ.

Tại điểm b khoản 3 Điều 12 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ, quy định:

“3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để bảo đảm an toàn trong các trường hợp sau đây:

… b) Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm …”.

Lỗi chính trong vụ án thuộc về bị cáo, hậu quả làm hai nạn nhân tử vong. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, Phí Thanh Đ đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Đối với ông Lâm Phúc T1 điều khiển xe mô tô đi từ đường không ưu tiên đến khu vực giao nhau với đường ưu tiên nhưng không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên, trước khi điều khiển xe mô tô dẫn đến vụ tai nạn ông T1 sử dụng rượu (theo kết quả xét nghiệm định lượng Ethanol (cồn) trong máu của ông Lâm Phúc T1 là 6.83mmol/L) là một phần nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn.

Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng, được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo đầu thú, từng có thời gian công tác trong quân đội, bị hại cũng có lỗi và người đại diện hợp pháp của các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ và hậu quả hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, hậu quả của tai nạn giao thông là gánh nặng cho gia đình và xã hội, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và có tác dụng răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo nên khi lượng hình xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần.

Bị cáo hành nghề lái xe khách nhưng lái xe thiếu chú ý quan sát dẫn đến tai nạn nên cần cấm bị cáo hành nghề lái xe một thời hạn nhất định theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Xét luận tội và đề nghị của đại diện viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, về mức án là phù hợp.

Về dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra và quá trình điều tra, Phí Thanh Đ đã bồi thường cho gia đình bị hại ông Lâm Phúc T1 tổng số tiền 90.000.000 đồng (bao gồm tiền mai táng phí, tiền bồi thường tổn thất về tinh thần và sửa chữa xe mô tô Honda Vision, biển kiểm soát 38M1 - 126.22); đã bồi thường cho gia đình bị hại ông Phạm Hồng T2 số tiền 80.000.000 đồng. Đại diện gia đình các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, bị cáo và bị đơn dân sự không ai có yêu cầu gì. Đối với các bộ phận hư hỏng do vụ tai nạn gây ra của xe ô tô nhãn hiệu Thaco biển kiểm soát 17H - 032.93, anh Dương Xuân B không yêu cầu bị cáo bồi thường, miễn xét.

Về xử lý vật chứng:

Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 xe ô tô biển kiểm soát 17H-032.93 nhãn hiệu Thaco, loại xe ô tô khách, màu sơn xanh trắng, đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn giao thông; 01 biên nhận giữ bản chính giấy đăng ký phương tiện giao thông đang thế chấp của ngân hàng V; 01 Giấy chứng nhận kiểm định số EB 1172555 của xe ô tô biển kiểm soát 17H-032.93 có giá trị đến ngày 15/4/2025; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của xe ô tô biển kiểm soát 17H-032.93 có giá trị đến ngày 23/5/2025 và đã trả lại cho anh Dương Xuân B. Thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 38M1-126.22, xe đã qua sử dụng và đã trả lại cho đại diện hợp pháp của bị hại anh Lâm Phúc C là phù hợp.

Đối với 01 giấy phép lái xe hạng A1, E số 340136001789 cấp ngày 22/11/2023 mang tên Phí Thanh Đ căn cứ khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự,

Tuyên bố: Phí Thanh Đphạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Phí Thanh Đ 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/4/2025 đến ngày 23/4/2025.

Căn cứ khoản 5 Điều 260, Điều 41 Bộ luật Hình sự cấm Phí Thanh Đ hành nghề lái xe thời hạn 12 tháng kể từ ngày bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giữ 01 giấy phép lái xe ô tô hạng A1, E số 340136001789 cấp ngày 22/11/2023 mang tên Phí Thanh Đ trong thời gian bị cáo chấp hành án phạt tù và bị cấm hành nghề lái xe để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc Phí Thanh Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trực tiếp quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ; Bị đơn dân sự vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ