vanban.org

Bản án 19/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Tuyên án 04/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Tuyênbố: Bị cáo Lê Đình V phạm tội“Tàngtrữtráiphép chất ma tuý”. Xử phạt: Bị cáo Lê Đình V 21 (Hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/12/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đình V - Tàng trữ TP chất MT. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÝ NHÂN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HS-ST.
Ngày: 04-3-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Văn An.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quốc Tuấn và bà Nguyễn Thị Quyên.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Lê Đình V, sinh năm 1980 tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn N, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Đình D (đã chết) và bà Phạm Thị E; có vợ là: Đinh Thị N và có 02 con (lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2013); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 23/12/2024 đến ngày 01/01/2025 chuyển tạm giam đến nay; có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 10 phút ngày 23/12/2024, Tổ công tác của Công an xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam làm nhiệm tuần tra kiểm soát khu vực Nghĩa trang nhân dân thuộc thôn P2, xã H, phát hiện Lê Đình V đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, phát hiện trong lòng bàn tay trái của Lê Đình V đang cất giữ một gói giấy (loại giấy vệ sinh), bên trong có gói giấy màu trắng (loại giấy có dòng kẻ ly) chứa chất bột màu trắng dạng cục. Tại chỗ, Lê Đình V khai chất bột màu trắng dạng cục trong gói giấy là ma túy, loại heroine cất giữ để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Đình V, thu giữ 01 gói giấy chứa chất bột màu trắng dạng cục, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT” sau đó làm thủ tục bàn giao Lê Đình V cùng vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện L để xử lý theo pháp luật.

* Ngày 23/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Lý Nhân thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Đình V tại thôn N, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Kết quả khám xét: Không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan.

* Tại bản kết luận giám định số 1043/KL-KTHS ngày 30/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì niêm phong ký hiệu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,191 (Không phẩy một trăm chín mươi mốt) gam, loại: Heroine”.

* Về nguồn gốc chất ma túy đã thu giữ, Lê Đình V khai: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 23/12/2024, Lê Đình V đi từ nhà đến khu vực cổng Nghĩa trang nhân dân thuộc thôn P2, xã H, huyện L thì gặp một người đàn ông khoảng 50 tuổi (không rõ nhân thân, lai lịch) và mua ma túy của người này với số tiền 300.000 đồng, rồi cầm ma túy đã mua ở lòng bàn tay trái, sau đó đi tìm nơi để sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.

*Vật chứng đã thu giữ: Số Heroine còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1043/KTHS ghi “Mẫu vật hoàn trả QT” được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện L.

* Quá trình điều tra, Lê Đình V đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện trong vụ án.

Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKS-LN ngày 18/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đã truy tố Lê Đình V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như cáo trạng đã nêu, không có ý kiến bổ sung. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như yếu tố nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là: HĐXX): Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Lê Đình V từ 24 tháng tù đến 27 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; đồng thời đề xuất hướng xử lý vật chứng hiện đang thu giữ.

- Bị cáo Lê Đình V đã thừa nhận và khai báo toàn bộ diễn biến hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bản thân vào sáng ngày 23/12/2024 đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả. Bị cáo xác định việc mua và cất giấu số ma tuý trên là để sử dụng cá nhân, không có bất kỳ mục đích nào khác. Bị cáo không có ý kiến gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng, kết luận giám định và lời khai của người tham gia tố tụng khác, cũng như không có ý kiến bào chữa và tranh luận gì; bản thân đã nhận thức được lỗi lầm đã gây ra và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong các giai đoạn tố tụng đã thực hiện và ban hành đều hợp pháp, tuân thủ các nguyên tắc tố tụng, cũng như đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được giao theo quy định.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Đình V tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định về ma tuý và lời khai của người làm chứng, cũng như chính lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thuthậptheotrìnhtự luật định,phản ánh đúngsự thật kháchquan củavụán.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 08 giờ 10 phút ngày 23/12/2024, tại khu vực Nghĩa trang nhân dân thuộc thôn P2, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam, Lê Đình V đang cất giữ trái phép 0,191g (Không phẩy một trăm chín mươi mốt gam) ma túy, loại Heroine trong lòng bàn tay trái với mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an xã H phát hiện bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Đình V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đảm bảo căn cứ pháp luật.

Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với chất ma tuý, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, ảnh hưởng xấu tới kỷ cương pháp luật, chuẩn mực đạo đức, lối sống và là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội, các loại tội phạm khác, làm xã hội mất ổn định. Bản thân bị cáo là người có trình độ văn hóa, cũng như có gia đình và cuộc sống ổn định, nhưng lại thể hiện lối sống tự do, buông thả, nên đã sa vào nghiện ngập ma túy, dẫn đến phạm tội. Vì vậy, xét thấy cần phải xử lý nghiêm minh, áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo với xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, cũng như răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội, đặc biệt là tội phạm về ma tuý trong tình hình hiện nay trên địa bàn.

- Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của bản thân, đồng thời thể hiện rõ sự ăn năn hối cải trước pháp luật; số ma túy mà bị cáo tàng trữ trong vụ án có trọng lượng không đáng kể (0,191g) mới trên mức tối thiểu của cấu thành định tội không nhiều; hiện bị cáo đang nuôi 02 con còn nhỏ. Do đó, được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. HĐXX sẽ xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tại, sớm trở về đoàn tụ cùng gia đình, cũng như thấy được tính nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội.

Xét thấy, cần tiếp tục tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án nên Quyết định tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án theo Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét mục đích phạm tội của bị cáo không để thu lợi bất chính nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Điều 35 và khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng: Số Heroine thu giữ của bị cáo cùng bao gói hoàn trả sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam, là chất Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu và tiêu huỷ.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vềquyềnkháng cáo: Bị cáođượcthựchiện theoquy địnhcủa phápluật.

Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng đã bán Heroine cho Lê Đình V như V đã khai, HĐXX xét thấy ngoài lời khai duy nhất của bị cáo, không có bất cứ tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh nên không có căn cứ để xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật, do đó HĐXX không đề cập.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Tuyênbố: Bị cáo Lê Đình V phạm tội“Tàngtrữtráiphép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Đình V 21 (Hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/12/2024.

[2]. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu huỷ: 01 (Một) phong bì niêm phong có số 1043/KTHS của Phòng Kỹ thuậthìnhsự -Công antỉnh Hà Nam, ghi“Mẫu vậthoàn trả QT”.

(Vật chứng có đặc điểm, tình trạng, số hiệu được ghi trong biên bản bàn giao vật chứng lập ngày 21/02/2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện L với Chi cục Thi hành án dân sự huyện L).

[3] Căn cứ Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

- Án phí hính sự sơ thẩm: Bị cáo cho Lê Đình V phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

- Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ