vanban.org

Bản án 19/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Thanh H được ly hôn với chị Trần Thị M.

Về con chung: Giao con chung tên Trần Nhật K, sinh ngày 03/01/2013 cho anh Trần Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị M không cấp dưỡng nuôi con.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn anh Trần Thanh H với bị đơn chị Trần Thị M"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Thanh H được ly hôn với chị Trần Thị M.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGÃ NĂM
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 25/02/2025
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trúc Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Chí Tâm

Bà Trần Thị Mỹ Xuân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tân, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 161/2024/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 13 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trần Thanh H, sinh năm 1995 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

- Bị đơn: Chị Trần Thị M, sinh năm 1997 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp L, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1/ Theo đơn khởi kiện lập ngày 24/11/2024, nguyên đơn anh Trần Thanh H trình bày:

Anh H và chị M có đăng ký kết hôn với nhau và được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 16/02/2016. Thời gian đầu chung sống vợ chồng hạnh phúc, tuy nhiên thời gian sau vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vả, vợ chồng nhiều lần hàn gắn nhưng không được, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân.

Về con chung: Thời gian chung sống anh, chị có một con chung tên Trần Nhật K, sinh ngày 03/01/2013, hiện nay đang sống chung với anh H.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Nay anh H yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về hôn nhân: Anh H yêu cầu ly hôn với chị Trần Thị M.

- Về con chung: Anh H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Nhật K, sinh ngày 03/01/2013 và không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu xem xét, giải quyết.

2. Đối với bị đơn chị Trần Thị M: Từ khi Tòa án thụ lý đến nay, mặc dù đã được thông báo các văn bản tố tụng cho bị đơn biết về nội dung khởi kiện của nguyên đơn nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không tham gia việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cũng như không tham gia phiên tòa hôm nay nên không có ý kiến trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn khởi kiện xin ly hôn với bị đơn, đồng thời bị đơn có địa chỉ ở xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn anh Trần Thanh H vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn chị Trần Thị M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227 và các khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

. Về quan hệ hôn nhân:

Anh Trần Thanh H và chị Trần Thị M tự nguyện kết hôn với nhau, tại thời điểm đăng ký kết hôn anh H và chị M đã đủ điều kiện kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn nên hôn nhân của anh, chị là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống anh, chị thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau về tính cách, vợ chồng nhiều lần hàn gắn nhưng không được, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân.

Hội đồng xét xử nhận thấy, tình cảm vợ chồng của anh H và chị M đã không còn, mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống hôn nhân của anh, chị không thể tiếp tục duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, giải quyết cho anh H được ly hôn với chị M.

. Về con chung: Anh H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Nhật K, sinh ngày 03/01/2013 và không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con chung.

Hội đồng xét xử thấy rằng hiện nay cháu K đang sống chung với anh H, cuộc sống của cháu đang ổn định và hiện nay cháu K phát triển bình thường đồng thời cháu K có nguyện vọng ở chung với anh H. Do đó nhằm để ổn định cuộc sống cũng như tâm lý của cháu K, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình tiếp tục giao cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Nhật K, sinh ngày 03/01/2013 cho đến tuổi trưởng thành. Nên yêu cầu được trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của anh H được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật cho chị M không ai được quyền ngăn cản.

Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn: Anh H không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh Trần Thanh H phải chịu 300.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 39 của Bộ luật dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Thanh H được ly hôn với chị Trần Thị M.

2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Nhật K, sinh ngày 03/01/2013 cho anh Trần Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị M không cấp dưỡng nuôi con.

Chị Trần Thị M có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh Trần Thanh H phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh Trần Thanh H đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007278 ngày 20/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ngã Năm, anh H đã nộp đủ tiền án phí. Chị Trần Thị M không chịu án phí.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ