- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H B NIÊ - Y Z NIÊ"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị H Bur Niê.
- Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST. Ngày: 26-5-2025. V/v: “Kiện ly hôn và tranh chấp nuôi con chung”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ.
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Vũ.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Y Dhiễu Hmok.
2. Ông Trương Đình Ry.
-Thư ký phiên Tòa: Ông Thiều Sỹ Vững - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 26/5/2025 tại phòng xử án, Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ mở phiên toà xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 60/2025/TLST-HNGĐ ngày 20/3/2025 về việc “Kiện ly hôn và tranh chấp nuôi con chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18/4/2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 15/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08/5/2025, giữa:
Nguyên đơn: Chị H B Niê, sinh năm: 1989. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Buôn K B, xã Cư B, thị xã Buôn H, tỉnh Đăk Lăk.
Bị đơn: Anh Y Z Niê, sinh năm 1988. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Địa chỉ: Buôn K B, xã Cư B, thị xã Buôn H, tỉnh Đăk Lăk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án chị H B là nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H B và anh Y Z về sống chung với nhau từ năm 2013, đăng ký kết hôn tại UBND xã Cư B, thị xã Buôn H, tỉnh Đăk Lăk, kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, sau khi về sống chung hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng nhiều quan điểm và anh Y Z thường xuyên uống rượu quậy phá, đánh đập, nên xảy ra nhiều cuộc cãi vã làm mất tình cảm vợ chồng, hiện chị H B và anh Y Z đã sống ly thân, cuộc sống chung không thể kéo dài được nữa, nay chị H B yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Y Z.
Về con chung: Chị H B và anh Y Z có 02 con chung là Y N Boy Niê, sinh ngày 06/9/2013 và H N El Niê, sinh ngày 23/01/2016, từ khi sống ly thân chị H B là người trực tiếp nuôi con. Nay chị H B có nguyện vọng tiếp tục được nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H B yêu cầu anh Y Z cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng.
Về tài sản và nợ chung: Chị H B không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án anh Y Z là bị đơn: Cố tình lẩn tránh, không hợp tác nên không ghi nhận được ý kiến của anh Y Z và anh Y Z cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án cũng như không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị H B.
Phát biểu của Kiểm sát viên:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ, Tòa án thực hiện đầy đủ và đúng trình tự theo quy định của pháp luật về tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của đương sự có trong hồ sơ vụ án do chủ tọa phiên tòa đã công bố tại phiên tòa thể hiện việc chị H B khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Y Z là có căn cứ. Vì vậy, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình. Cho chị H B được ly hôn với anh Y Z, tiếp tục giao 02 con chung cho chị H B nuôi dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Pháp luật về tố tụng: Việc chị H B Niê khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Y Z Niê, Toà án thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án đã tiến hành triệu tập các đương sự đến Tòa án để công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Y Z cố tình lẩn tránh, không hợp tác, vắng mặt không có lý do, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án, nên Tòa án không thể tiến hành công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự được mà tiến hành xác minh, niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi anh Y Z cư trú. Căn cứ khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải được và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
. Pháp luật về nội dung:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị H B và anh Y Z về sống chung với nhau từ năm 2013, đăng ký kết hôn tại UBND xã Cư B, thị xã Buôn H, tỉnh Đăk Lăk theo giấy chứng nhận kết hôn số 84/2013/KH ngày 19/7/2013. Nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến ly hôn là do tính tình không hợp, bất đồng nhiều quan điểm và anh Y Z thường xuyên uống rượu quậy phá, đánh đập, nên xảy ra nhiều cuộc cãi vã làm mất tình cảm vợ chồng, hiện chị H B và anh Y Z đã sống ly thân, cuộc sống chung không thể kéo dài được nữa, nay chị H B yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Y Z.
Căn cứ vào lời khai của đương sự và qua xác minh tại chính quyền địa phương thì chị H B và anh Y Z thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hiện tại hai người đã sống ly thân. Do đó, xét thấy mâu thuẫn giữa chị H B và anh Y Z ngày càng trầm trọng, giữa hai người không còn thương yêu, chăm sóc, quý trọng lẫn nhau, thực tế hôn nhân không còn tồn tại. Vì vậy, việc chị H B yêu cầu ly hôn với anh Y Z là có căn cứ, nên cần chấp nhận.
2.2. Về con chung: Chị H B và anh Y Z có 02 con chung. Nhận thấy, sau khi sống ly thân chị H B là người trực tiếp nuôi con, nay ly hôn chị H B có nguyện vọng tiếp tục nuôi con và con chung có nguyện vọng ở với chị H B, nên cần giao 02 con chung là Y N Boy Niê, sinh ngày 06/9/2013 và H N El Niê, sinh ngày 23/01/2016 cho chị H B trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi các con chung trưởng thành đủ 18 tuổi là phù hợp.
2.3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H B yêu cầu anh Y Z cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H B 2.000.000 đồng/tháng/02 con chung. Nhận thấy, con chung hiện do chị H B đang nuôi dưỡng nên việc cấp dưỡng nuôi con chung là cần thiết và mức yêu cầu cấp dưỡng là phù hợp với các Điều 110, Điều 116; Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình, nên cần chấp nhận yêu cầu này của chị H B.
2.4. Về tài sản và nợ chung: Chị H B không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề cập xem xét.
. Về án phí: Chị H B phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Anh Y Z phải chịu tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 110; Điều 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình;
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị H Bur Niê.
1. Về hôn nhân: Cho chị H B Niê được ly hôn với anh Y Z Niê.
2. Về con chung: Giao 02 con chung là Y N Boy Niê, sinh ngày 06/9/2013 và H N El Niê, sinh ngày 23/01/2016 cho chị H B trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, cho đến khi các con chung trưởng thành đủ 18 tuổi.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Y Z phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H B mỗi tháng 2.000.000 đồng/02 con chung, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, phương thức cấp dưỡng hàng tháng cho đến khi các con chung đã trưởng thành đủ 18 tuổi.
Anh Y Z có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung.
4. Về tài sản và nợ chung: Chị H B không yêu cầu giải quyết, nên không đề cập xem xét.
5. Về án phí: Căn cứ vào khoản 3 Điều 144; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào khoản 5 Điều 19; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTUQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án;
Chị H B phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục THADS thị xã Buôn Hồ theo biên lai số 0004107 ngày 17/3/2025.
Anh Y Z phải chịu 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Đăk Lăk; - Viện KSND TX Buôn Hồ; - Chi cục THADS TX Buôn Hồ; - UBND xã Cư Bao, TX Buôn Hồ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký Nguyễn Huy Vũ |