vanban.org

Bản án 19/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; xử: Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Bùi Thị H được ly hôn anh Mai Đình T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Bùi Thị H xin ly hôn anh Mai Đinh H1"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4-BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST
Ngày 30-7-2025
V/v Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Thế Vinh

- Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Văn Chấn;

- Bà Nguyễn Thị Yến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngọ Thị Thanh Hà– Thẩm tra viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 186/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025 (vụ án do Tòa án nhân dân huyện Lục Nam thụ lý, nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh), về việc: Ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/6/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H, sinh ngày 08/7/1990

Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, xã L, tỉnh Bắc Ninh.

Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx.

- Bị đơn: Anh Mai Đình T, sinh ngày 01/10/1990

Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, xã L, tỉnh Bắc Ninh.

Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn là chị Bùi Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Mai Đình T kết hôn ngày 19/6/2013 trên cơ sở tự nguyện, có được tìm hiểu nhau và tự nguyên đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân (viết tắt là UBND) thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang, nay là UBND xã L, tỉnh Bắc Ninh.

Sau khi kết hôn xong, chị và anh T về ở với nhau ngay, thời gian đầu 2 người sống hạnh phúc và đã có 1 con chung là Mai Gia B, sinh ngày 03/4/2014.

Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng bắt đầu từ năm 2018, anh T đi làm ăn xa, chơi bời, nợ nần nhiều, không quan tâm đến gia đình và vợ con, đến năm 2019 thì chị và anh T chấm dứt quan hệ vợ chồng, gia đình đã hoà giải, nhưng không thành, chị đã sống ly thân, đến nay thấy tình cảm với anh T không còn, nên đề nghị Toà án cho được ly hôn.

- Về con chung: Chị và anh T có 01 con như trình bày ở trên. Nếu ly hôn, chị xin nuôi con.

Về cấp dưỡng nuôi con, chị không yêu cầu.

- Về tài sản: Để chị và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Mai Đình T trình bày: Anh và chị H kết hôn năm 2013 trên cơ sở tự nguyện, có được tự do tìm hiểu nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Đ, huyện L. Kết hôn xong, anh và chị H về ở với nhau ngay, hai vợ chồng đã sống hạnh phúc. Do anh làm kỹ sư xây dựng, thường đi làm xa, có thời gian đi vài tháng mới về nhà; vợ chồng xa nhau, nên tình cảm nhạt dần; anh và chị H đã chấm dứt quan hệ vợ chồng từ năm 2019, nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được, chị H xin ly hôn, anh đồng ý.

- Về con chung: Anh và chị H có 1 con chung như chị H trình bày là đúng. Chị Hồng X nuôi con, anh đồng ý.

- Về tài sản: Để anh và chị H tự thoả thuận giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án và đều xin vắng mặt.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự đã được Tòa án cho thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của đương sự; nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự (viết tắt là BLTTDS).

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Các Điều: 51, 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân gia đình 2014;

Căn cứ các Điều: 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 272 và Điều 273 của BLTTDS;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Bùi Thị H được ly hôn anh Mai Đình T.

- Về con chung: Giao cháu Mai Gia B, sinh ngày 03/4/2014 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Anh Mai Đình T có quyền thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở.

- Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí. Tiền án phí được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Chị Hà Thị H1 có đơn xin ly hôn anh Mai Đình T và giải quyết về con chung. Nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 của BLTTDS xác định quan hệ pháp luật là: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có địa chỉ cư trú tại thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang nay là xã L, tỉnh Bắc Ninh. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Nên Toà án nhân dân huyện Lục Nam thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định.

Từ ngày 01/7/2025 thì Toà án nhân dân huyện Lục Nam sáp nhập với Toà án nhân dân huyện Lạng Giang thành Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh. Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh đã kế thừa toàn bộ thẩm quyền giải quyết vụ án của Toà án nhân dân huyện Lục Nam và tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật (Nghị quyết số: 225/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội).

Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của BLTTDS, Toà án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị H và anh Mai Đình T kết hôn ngày 19/6/2013 trên cơ sở tự nguyện, có được tìm hiểu nhau và tự nguyên đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang, nay là UBND xã L, tỉnh Bắc Ninh. Nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, chị H và anh T về ở với nhau ngay, hai người sống hạnh phúc một thời gian dài và đã có 1 con chung. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do: Trong cuộc sống, chị H và anh T có nhiều điểm không hợp nhau, hai vợ chồng đã xảy ra cãi nhau và đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay; hai bên gia đình đã hòa giải nhưng không thành. Chị H xin ly hôn, Tòa án đã tiến hành hòa giải để chị H và anh T về đoàn tụ. Tuy nhiên chị H cương quyết xin ly hôn và từ chối hòa giải đoàn tụ; còn anh T cũng đồng ý ly hôn và xin vắng mặt. Chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không còn tình cảm với nhau, không có sự quan tâm chăm sóc nhau, vị phạm nghĩa vụ của vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, cho chị H được ly hôn anh T.

Về con chung: Chị H và anh T có 1 con chung là: là Mai Gia B, sinh ngày 03/4/2014. Con chung đang ở với chị H, chị H có nguyện vọng nuôi con; anh T cũng đồng ý để chị H nuôi con chung. Do đó cần giao cháu Mai Gia B cho chị H trực tiến chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị H không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.

Quyền thăm con: Anh T có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của người con, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc bên không nuôi con cho nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, nếu sau này các đương sự có yêu cầu và theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết, nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình theo quy định tại Điều 147 của BLTTDS.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271 và Điều 273 của BLTTDS.

Báo cho nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều: 51, 56, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Bùi Thị H được ly hôn anh Mai Đình T.

2. Về con chung: Giao cho chị Bùi Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Mai Gia B, sinh ngày 03/4/2014 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Anh Mai Đình T có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này.

3. Về án phí: Chị Bùi Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình.

Tiền án phí được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng chị H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004846 ngày 12/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang nay là Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Xác nhận chị H đã nộp đủ tiền án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ