- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST Ngày: 15/9/2025 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đình Đậu
2. Bà Đỗ Thị Vân Anh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Hoàng Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Đặng Trần Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 23/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ngọt, sinh năm 1999.
Đều ĐKTT: Tổ 27B, khu Thành Công, phường Thọ Sơn, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ (Nay là phường Thanh Miếu, tỉnh Phú Thọ).
Chỗ ở hiện nay: Tổ 11, phố Đoàn Kết, phường Thanh Miếu, tỉnh Phú Thọ.
2. Bị đơn: Anh Đỗ Hải Đăng, sinh năm 1995.
Đều ĐKTT: Tổ 27B, khu Thành Công, phường Thọ Sơn, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ (Nay là phường Thanh Miếu, tỉnh Phú Thọ).
Chỗ ở hiện nay: Tổ 22D, phố Mai Sơn 1, phường Tiên Cát, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ (Nay là phường Thanh Miếu, tỉnh Phú Thọ).
(Chị Ngọt, anh Đăng đều có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Trần Thị Ngọt trình bày:
Chị Trần Thị Ngọt và anh Đỗ Hải Đăng đăng ký kết hôn ngày 01/8/2017 tại UBND phường Thọ Sơn, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ (Nay là UBND phường Thanh Miếu, tỉnh Phú Thọ). Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại nhà bố mẹ anh Đăng tại địa chỉ: Tổ 27B, phố Thành Công, phường Thọ Sơn, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn do có nhiều khác biệt trong quan điểm sống, cách nuôi dạy con cái. Tháng 5/2023, chị Ngọt đã chuyển về sống tại nhà mẹ đẻ tại phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ (Nay là phường Thanh Miếu, tỉnh Phú Thọ), vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay và hiện không còn quan tâm đến nhau nữa. Tháng 10/2024, chị Ngọt có làm đơn đến Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ nay là Toà án nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn anh Đăng. Sau khi Tòa án xác minh và lấy lời khai của anh Đăng, anh Đăng nói vẫn còn tình cảm nên chị đã rút đơn khởi kiện về để vợ chồng hàn gắn tình cảm nhưng trong thời gian từ đó cho đến nay anh Đăng vẫn không có động thái gì để hàn gắn tình cảm. Bản thân chị Ngọt xác định không còn tình cảm gì với anh Đăng, vợ chồng không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Ngọt đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đỗ Hải Đăng.
Về con chung: Chị Trần Thị Ngọt trình bày vợ chồng có 02 con chung là: cháu Đỗ Minh Khôi, sinh ngày 02/11/2019 và cháu Đỗ Minh Đạt, sinh ngày 08/4/2021. Khi ly hôn chị Ngọt có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Đỗ Minh Đạt; anh Đăng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Đỗ Minh Khôi. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau.
Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp: Chị Trần Thị Ngọt xác định không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Đỗ Hải Đăng trình bày:
Anh Đăng xác nhận về quá trình vợ chồng tìm hiểu, kết hôn và chung sống, mâu thuẫn vợ chồng như chị Ngọt trình bày, nay chị Ngọt đề nghị ly hôn anh Đăng đồng ý lý hôn.
Về con chung: Anh Đăng xác nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Đỗ Minh Khôi, sinh ngày 02/11/2019 và cháu Đỗ Minh Đạt, sinh ngày 08/4/2021. Khi ly hôn anh Đăng xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đỗ Minh Khôi và để chị Ngọt trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đỗ Minh Đạt. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Anh Đăng xác định không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, việc thu thập chứng cứ của Tòa án là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện VKSND khu vực 1 - Phú Thọ đề nghị HĐXX, căn cứ Điều 51, 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Đ iều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị Ngọt và anh Đỗ Hải Đăng.
Về con chung: Giao cháu Đỗ Minh Đạt, sinh ngày 08/4/2021 cho chị Trần Thị Ngọt trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Giao cháu Đỗ Minh Khôi, sinh ngày 02/11/2019 cho anh Đỗ Hải Đăng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị Trần Thị Ngọt và anh Đỗ Hải Đăng không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Chị Trần Thị Ngọt và anh Đỗ Hải Đăng có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Các bên đương sự không yêu cầu nên Toà án không giải quyết.
Về án phí: Chị Trần Thị Ngọt và anh Đỗ Hải Đăng phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Nguyên đơn chị Trần Thị Ngọt khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ giải quyết ly hôn anh Đỗ Hải Đăng. Anh Đỗ Hải Đăng đăng ký thường trú tại: Tổ 27b, khu Thành Công, phường Thanh Miếu, tỉnh Phú Thọ nên căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35,điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Ngọt là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ theo đúng quy định tại BLTTDS và đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự. Các đương sự đã được tiếp cận công khai các tài liệu chứng cứ theo đúng quy định của pháp luật. Chị Trần Thị Ngọt và anh Đỗ Hải Đăng đều có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt chị Ngọt, anh Đăng.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Ngọt và anh Đỗ Hải Đăng kết hôn trên cơ
sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 01/08/2017 tại UBND phường Thọ Sơn, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ (Nay là phường Thanh Miếu, tỉnh Phú Thọ) nên quan hệ hôn nhân giữa chị Ngọt và anh Đăng là hôn nhân hợp pháp. Chị Ngọt trình bày: Trong quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do có nhiều khác biệt trong quan điểm sống, cách nuôi dạy con cái. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5/2023, chị Ngọt đã chuyển về sống tại nhà mẹ đẻ tại phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ (Nay là phường Thanh Miếu, tỉnh Phú Thọ). Anh Đăng cũng thừa nhận về thời gian kết hôn, quá trình chung sống, mâu thuẫn vợ chồng như chị Ngọt trình bày nên đồng ý ly hôn với chị Ngot. Xét thấy việc chị Ngọt, anh Đăng thuận tình ly hôn là hoàn toàn tự nguyện nên được công nhận.
Về con chung: Chị Ngọt và anh Đăng đều xác nhận vợ chồng có có 02 con chung là cháu Đỗ Minh Khôi, sinh ngày 02/11/2019 và cháu Đỗ Minh Đạt, sinh ngày 08/4/2021. Ly hôn chị Ngọt và anh Đăng đề nghị Tòa án giao cho chị Ngọt được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đỗ Minh Đạt, giao cho anh Đăng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đỗ Minh Khôi. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau. Xét thấy đề nghị giao nuôi con chung của chị Ngọt anh Đăng phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị Ngọt, anh Đăng xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có công nợ chung, không có công sức đóng góp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết do đó Tòa án không giải quyết.
Về án phí: Chị Ngọt và anh Đăng phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định
của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QuyÕt ®Þnh
Áp dụng Điều 51, 55, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị Ngọt và anh Đỗ Hải Đăng.
2. Về con chung: Giao cháu Đỗ Minh Đạt, sinh ngày 08/4/2021 cho chị Trần Thị Ngọt trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Giao cháu Đỗ Minh Khôi, sinh ngày 02/11/2019 cho anh Đỗ Hải Đăng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị Trần Thị Ngọt và anh Đỗ Hải Đăng không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Chị Trần Thị Ngọt và anh Đỗ Hải Đăng có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Tòa án không giải quyết.
4. Về án phí: Chị Trần Thị Ngọt và anh Đỗ Hải Đăng mỗi người phải chịu 75.000đ (Bẩy mươi lăm nghìn đồng) án phí ly hôn. Xác nhận chị Ngọt đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu số 000571 ngày 18/7/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7,7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND khu vực 1 - Phú Thọ; - THADS tỉnh Phú Thọ; - UBND ph.Thanh Miếu, tỉnh Phú Thọ; - Lưu VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu Trang |