vanban.org

Bản án 19/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Danh Ngọc D.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Danh Ngọc D được ly hôn với ông Lê Minh P. Về con chung:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Danh Ngọc D.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 31/3/2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Lam.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Ngọc Hà

Ông Thạch Văn Hoà

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Tú Lệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Công Nguyên – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 255/2024/TLST-HNGĐ ngày 18/12/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Danh Ngọc D. Địa chỉ: ấp H, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Lê Minh P. Địa chỉ: ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 27/9/2024, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 17/02/2025, nguyên đơn bà Danh Ngọc D trình bày:

Bà Danh Ngọc D và ông Lê Minh P tự nguyện đi đến hôn nhân và kết hôn vào ngày 25/05/2015. Thời gian đầu bà D và ông P chung sống với nhau hạnh phúc. Bà D và ông P đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng số 109/2017 ngày 21/8/2017. Trong quá trình chung sống, bà D và ông P có một người con chung là cháu Lê Ngọc Gia H, sinh ngày 17/10/2017, hiện tại đang ở với bà D.

Thời gian sau, bà D và ông P thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông P thường xuyên bỏ bê bà D và con cái, bà D và ông P tính tình không còn phù hợp, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Bà D và ông P ly thân từ tháng 4 năm 2021 đến nay.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận.

Về nợ chung: Không có.

Nay bà Danh Ngọc D yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về hôn nhân: Bà Danh Ngọc D yêu cầu được ly hôn với ông Lê Minh P

Về con chung: Bà Danh Ngọc D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục, chăm nom cháu Lê Ngọc Gia H, sinh ngày 17/10/2017 cho đến khi cháu Lê Ngọc Gia H đủ tuổi trường thành (đủ 18 tuổi). Bà Danh Ngọc D không yêu cầu ông Lê Minh P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Lê Minh P: Tòa án đã thực hiện tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông Lê Minh P, nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay, ông Lê Minh P vắng mặt, không tham gia tố tụng, không gửi cho Tòa án văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Nguyên đơn đã chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.

Nguyên đơn bà Danh Ngọc D có đơn yêu cầu Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

Bị đơn ông Lê Minh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, là chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, thực hiện chưa đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Danh Ngọc D đối với bị đơn ông Lê Minh P, giải quyết cho bà Danh Ngọc D và ông Lê Minh P ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cháu Lê Ngọc Gia H, sinh ngày 17/10/2017 cho bà Danh Ngọc D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Lê Ngọc Gia H đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Danh Ngọc D không yêu cầu ông Lê Minh P cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung: Bà Danh Ngọc D trình bày là để hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về nợ chung: Bà Danh Ngọc D tự trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Danh Ngọc D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Về quan hệ hôn nhân: Bà yêu cầu được ly hôn với ông Lê Minh P; Về con chung: Bà yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Ngọc Gia H, sinh ngày 17/10/2017 đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông Lê Minh P cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung: Hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết; Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng thụ lý vụ án xác định quan hệ pháp luật giải quyết “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn bà Danh Ngọc D có đơn yêu cầu Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

Đối với bị đơn ông Lê Minh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Danh Ngọc D và ông Lê Minh P tự nguyện kết hôn, được Uỷ ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 21/8/2017 cho nên quan hệ hôn nhân giữa bà Danh Ngọc D và ông Lê Minh P là hợp pháp. Bà Danh Ngọc D trình bày trong quá trình chung sống, giữa bà Danh Ngọc D và ông Lê Minh P phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là tính tình vợ chồng không hợp nhau, gia đình không hạnh phúc, bà Danh Ngọc D và ông Lê Minh P đã không còn chung sống với nhau từ năm 2021 cho đến nay. Cho nên bà Danh Ngọc D đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Lê Minh P. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án cũng đã triệu tập các đương sự đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải nhằm tìm ra được cách thức để hai bên hàn gắn tình cảm vợ chồng và khắc phục mâu thuẫn để vợ chồng có thể đoàn tụ với nhau, nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến nay bị đơn ông Lê Minh P không có ý kiến, cũng không đến tham dự phiên hòa giải, cũng không đến tham gia phiên tòa. Từ đó cho thấy mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa hai người là trầm trọng, cuộc sống chung không có cơ sở để tồn tại, dẫn đến mục đích hôn nhân xây dựng gia đình hạnh phúc không thể đạt được. Do vậy việc bà Danh Ngọc D yêu cầu được ly hôn với ông Lê Minh P là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Danh Ngọc D và giải quyết cho bà Danh Ngọc D được ly hôn với ông Lê Minh P.

Về con chung: Bà Danh Ngọc D và ông Lê Minh P có 01 con chung là cháu Lê Ngọc Gia H, sinh ngày 17/10/2017. Bà yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Ngọc Gia H đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông Lê Minh P cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện nay cháu Lê Ngọc Gia H đang sống chung với bà Danh Ngọc D, được bà Danh Ngọc D chăm sóc, nuôi dưỡng tốt, đồng thời cháu Lê Ngọc Gia H cũng có nguyện vọng được sống chung với mẹ là bà Danh Ngọc D. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định cho cháu, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Danh Ngọc D, giao cháu Lê Ngọc Gia H cho bà Danh Ngọc D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Lê Ngọc Gia H đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Lê Minh P không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Danh Ngọc D không yêu cầu.

Về tài sản chung: Bà Danh Ngọc D trình bày là để hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Bà Danh Ngọc D tự trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Từ những phân tích nêu trên nhận thấy đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Bà Danh Ngọc D phải chịu án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn số tiền 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Danh Ngọc D.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Danh Ngọc D được ly hôn với ông Lê Minh P.

- Về con chung:

Giao cháu Lê Ngọc Gia H, sinh ngày 17/10/2017 cho bà Danh Ngọc D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Lê Ngọc Gia H đủ 18 (Mười tám) tuổi. Ông Lê Minh P không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Danh Ngọc D không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, ông Lê Minh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định tại Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung: Hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về nợ chung: Bà Danh Ngọc D tự trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Danh Ngọc D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền số 0005838 ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng; Như vậy, bà Danh Ngọc D đã nộp xong án phí sơ thẩm. Bị đơn ông Lê Minh P không phải chịu án phí sơ thẩm.

Báo các đương sự biết, án xử sơ thẩm công khai có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết) để xin Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ