- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "NĐ: H Tun N; BĐ: Bùi L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H’Tun N, buộc ông Bùi L trả cho bà H’ Tun N số tiền 125.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2025/DS-ST Ngày 27 tháng 5 năm 2025 “V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Khắc Vũ, ông Trần Tiến Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thúy Hằng là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Văn Hai - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ea H, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 359/2024/TLST - DS ngày 31 tháng 12 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST - DS ngày 18 tháng 4 năm 2025 và theo Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2025/QĐST – DS ngày 12 tháng 5 năm 2025, giữa:
Nguyên đơn: Bà H’Tun N (Có mặt)
Địa chỉ: Buôn Briêng B, xã Ea N, huyện Ea H, tỉnh Đắk Lắk
Bị đơn: Ông Bùi L (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố 1, thị trấn Ea D, huyện Ea , tỉnh Đắk Lắk
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà H’Tun N trình bày tóm tắt:
Ngày 06 tháng 3 năm 2024, bà cho ông Bùi L vay 120.000.000đ thông qua hình thức chuyển khoản, nhưng trong hợp đồng ghi 110.000.000đ, lãi suất tự thỏa thuận, thời hạn vay 30 ngày. Đến nay, mặc dù đã quá hạn trả nợ và bà đã nhiều lần đòi nhưng mà ông Bùi L không trả. Do đó bà khởi kiện yêu cầu ông Bùi L trả số tiền 120.000.000đ và lãi suất theo quy định của pháp luật.
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, ông Bùi L trình bày tóm tắt:
Ngày 06 tháng 3 năm 2024, ông có vay của bà H’Tun N số tiền 120.000.000đ, lãi suất 2000đ/triệu/tháng, thời hạn vay là 30 ngày. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên ông chưa trả được. Đến nay, bà Tun kiện, thì ông đồng ý trả vào ngày 30 tháng 6 năm 2025.
Tại Hợp đồng thỏa thuận vay tiền ngày 06 tháng 3 năm 2024 thể hiện nội dung tóm tắt: Bà H’Tun N có cho ông Bùi L vay số tiền 110.000.000đ, không ghi thời hạn vay và lãi suất vay.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã tuân thủ đầy đủ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Bà H’Tun N chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Mặc dù đã được triệu tập nhưng ông Bùi L vẫn vắng mặt.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 26, 35 và 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều từ 385 đến 398 và các Điều 463, 465, 466, 468 của Bộ luật dân sự. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H’Tun N, buộc ông Bùi L trả cho bà H’ Tun N số tiền 120.000.000đ và lãi suất phát sinh với mức 10%/năm.
Về án phí: Ông Bùi L phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Trả lại cho bà H’Tun N số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thụ lý vụ án:
+ Bà H’Tun N khởi kiện yêu cầu ông Bùi L trả số tiền đã vay. Như vậy quan hệ pháp luật ở đây là:“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Bà H’Tun N làm đơn khởi kiện và có nộp tiền tạm ứng án phí. Ông Bùi L có hộ khẩu thường trú tại huyện Ea H, tỉnh Đắk Lắk, vì vậy Tòa án nhân dân huyện Ea H, tỉnh Đắk Lắk căn cứ vào các Điều 35, 39 và khoản 3 Điều 195 của Bộ luật tố tụng dân sự để thụ lý vụ án.
. Về thủ tục tố tụng:
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án tiến hành hòa giải nhưng các bên đương sự không thống nhất được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án. Mặc dù được triệu tập nhưng ông Bùi L vắng mặt tại phiên toà, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự để tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
. Về nội dung quan hệ pháp luật có tranh chấp:
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà H’Tun N về việc buộc ông Bùi L trả số tiền vay (gốc) là 120.000.000đ, thì Hội đồng xét xử thấy rằng:
Quá trình giải quyết vụ án, bà H’Tun N và ông Bùi L đều thừa nhận ngày 06 tháng 3 năm 2024, bà H’Tun N có cho ông Bùi L vay số tiền 120.000.000đ.
Đến nay, ông Bùi L xác nhận là ông chưa trả cho bà H’Tun N bất kỳ khoản vay nào và đồng ý trả vào ngày 30 tháng 6 năm 2025, nhưng bà H’Tun N không đồng ý
Xét thấy ông Bùi L thừa nhận số tiền mà ông đã vay của bà H’Tun N và ông đồng ý trả, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H’Tun N, ghi nhận ý kiến của ông Bùi L và chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, buộc ông Bùi L trả cho bà H’Tun N số tiền 120.000.000đ.
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà H’Tun N về việc buộc ông Bùi L trả lãi suất vay theo quy định của pháp luật, thì Hội đồng xét xử thấy rằng:
Do hợp đồng không ghi thời hạn và lãi suất vay, nên Hội đồng xét xử xác định đây là hợp đồng không kỳ hạn, không có lãi vì vậy bà H’Tun N có quyền yêu cầu ông Bùi L trả nợ bất cứ lúc nào theo quy định tại Điều 469 của Bộ luật dân sự. Bà H’Tun N cho rằng đã nhiều lần yêu cầu ông Bùi L trả nợ nhưng lại không có chứng cứ chứng minh do đó Hội đồng xác định ngày bà H’Tun N yêu cầu ông Bùi L trả nợ là ngày bà H’Tun N khởi kiện (16/12/2024), do đó lãi suất được tính từ ngày này và được xác định bằng 50% mức lãi suất của 20%/năm theo quy định tại khoản 4 Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự. Tại phiên toà, bà H’Tun N đồng ý tính lãi suất mức 10%/năm. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận và xác định số lãi suất mà ông Bùi L phải trả cho bà H’Tun N tính đến ngày 27 tháng 5 năm 2025 là 05 tháng, 11 ngày x 0,83%/tháng = 5.345.200đ.
Ông Bùi L khẳng định rằng ông chưa trả cho bà H’Tun N bất kỳ khoản tiền lãi nào và đồng ý trả. Do đó yêu cầu của bà H’Tun N là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật, nên buộc ông Bùi L trả cho bà H’Tun N số tiền lãi là 5.345.200đ.
Như vậy ông Bùi L phải trả cho bà H’Tun N tổng số tiền 125.345.200đ (Trong đó, Gốc là: 120.000.000đ, lãi suất tính đến ngày 27 tháng 5 năm 2025 là: 5.345.200đ).
. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của bà H’Tun N được Tòa án chấp nhận, ông Bùi L không thuộc trường hợp được miễn hoặc không phải chịu án phí, vì vậy ông Bùi L phải chịu 6.267.260đ tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về dân sự có giá ngạch (Được tính: 125.345.200đ x 5% = 6.267.260đ, làm tròn là 6.267.000đ).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 3 Điều 26; các điều 147; 235; 271; 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ các điều từ 385 đến 398 và các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H’Tun N, buộc ông Bùi L trả cho bà H’ Tun N số tiền 125.345.200đ (Trong đó, Gốc là: 120.000.000đ, lãi suất tính đến ngày 27 tháng 5 năm 2025 là: 5.345.200đ).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí:
+ Ông Bùi L phải chịu 6.267.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
+ Trả lại cho bà H’Tun N 3.000.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ea H, tỉnh Đắk Lắk theo Biên lai số AA/2023/0002528 ngày 23 tháng 12 năm 2024.
3. Về quyền và thời hạn kháng cáo: Bà H’Tun N có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Bùi L vắng mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ nhận được bản án hoạc kể từ ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại điều 2 của Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Ea H; - Các đương sự ; - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đỗ Văn Dũng |