- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "Nguyễn Văn B - Nguyễn Khắc Đ - TCQSD đất"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu c u kh i kiện của ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị K về việc buộc ông Nguyễn Khắc Đỉnh, bà Nguyễn Thị N phải trả diện tích đất là 4,4m2 (ký hiệu S3) được giới hạn b i các điểm b i các điểm A16A1A2 đến A16, xác định mốc giới là điểm A16 đến điểm A2.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Luật Đất đai; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2025/DS-ST Ngày: 18/9/2025 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất (phần mốc giới) |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Giang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Duy Hiển và bà Lê Thị Hằng.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Tâm - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 11 – Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 18/9/2025, tại phòng xét xử Toà án nhân dân khu vực 11 – Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 39/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 11 năm 2024 về việc: “Tranh chấp về quyền sử dụng đất (phần mốc giới)”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-DS ngày 18/8/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1968, số CCCD 030068007704 và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1971, số CCCD 030171007464. Nơi cư trú: Thôn Côi H, xã Trường T, thành phố Hải Phòng (cũ là thôn Côi H, xã Phạm T, huyện Gia L, tỉnh Hải Dương).
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị K: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1968, số CCCD 030068007704; Nơi cư trú: Thôn Côi H, xã Trường T, thành phố Hải Phòng (cũ là thôn Côi H, xã Phạm T, huyện Gia L, tỉnh Hải Dương).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Khắc Đ, sinh năm 1966, số CCCD 030066000861 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1966, số CCCD 030166006329. Nơi cư trú: Thôn Côi H, xã Trường T, thành phố Hải Phòng (cũ là thôn Côi H, xã Phạm T, huyện Gia L, tỉnh Hải Dương).
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Đỉnh, bà Ngoãn: Anh Nguyễn Khắc T, sinh năm 1988, số CCCD 030088011783; địa chỉ: Thôn Côi H, xã Trường T, thành phố Hải Phòng (cũ là thôn Côi H, xã Phạm T, huyện Gia L, tỉnh Hải Dương).
Tại phiên tòa, có mặt ông Biêng, anh Toàn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn B đồng thời là người được bà Nguyễn Thị K ủy quyền, tr nh bày:
Bố ông Biêng là cụ Nguyễn Văn Đệ (chết năm 2004), m ông Biêng là cụ Nguyễn Thị Kính (chết năm 2015). Bố m ông Biêng có thửa đất số 163, tờ bản đồ số 9, diện tích 107m2 (là đất mặt nước nuôi trồng thủy sản); địa chỉ: Thôn Côi H, xã Phạm T, huyện Gia L, tỉnh Hải Dương. Năm 2005, bố m ông Biêng đã làm thủ tục tặng cho vợ chồng ông Biêng, bà Khuyên diện tích đất này, thửa đất này đã được UBND huyện Gia Lộc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số AB438844 ngày 09/3/2005 thửa đất số 163, tờ bản đồ số 9, diện tích 107m2, cạnh phía tây giáp thửa đất của vợ chồng ông Đỉnh, bà Ngoãn. Quá tr nh sử dụng diện tích đất ao này, ông bà xác định: Khoảng năm 1975 – 1976, bố ông Biêng được Nhà nước cấp 107m2 đất ao, thời điểm đó ao không có bờ đất vòng xung quanh mà giáp đất liền th . Đến năm 2005 mới sang tên cho ông bà, hiện trạng v n như trước. Lúc này phía đất của ông Đỉnh (giáp ao của ông bà) th ông Đỉnh đã xây bờ k vòng cung chỉ có một đoạn giáp ranh giữa hai nhà, ph n còn lại v n là đất liền (xây vào năm 2000). Khoảng năm 2014 – 2015, vợ chồng ông lấp ao. Khoảng năm 2017, nhà ông Đỉnh xây tường giáp ranh (hiện nay v n còn bờ tường này) với thửa đất ao của ông bà. Sau đó, ông bà dựng lán, xây các bức tư ng lửng xung quang thửa đất ao và bắn tôn, bịt tôn để nhà tạm như hiện nay. Phía giáp nhà ông Đỉnh ông bà bắn và bịt tôn sát vào bức tư ng nhà ông Đỉnh đã xây năm 2017. T đó đến nay, hai bên v n sử dụng n định không có vấn đề tranh chấp g về ranh giới, mốc giới. Đến năm 2023, ông bà làm thủ tục tặng cho con gái diện tích đất ao nêu trên, sau khi đo đạc, khảo sát lại toàn bộ diện tích đất thấy cạnh phía tây thửa đất bị gia đ nh ông Đỉnh, bà Ngoãn có xây dựng bức tường lấn sang thửa đất của ông bà khoảng 7,2m2 (chiều dài khoảng 09m, chiều ngang giáp mặt đường xóm là 0,8m). Sau đó, ông bà sang nói chuyện với gia đ nh ông Đỉnh, bà Ngoãn, lúc đ u gia đ nh ông Đỉnh nhất trí sẽ trả lại cho ông bà diện tích đất đã xây dựng lấn sang. Do vậy, tháng 8/2023 cán bộ địa chính xã có đến thửa đất đo đạc để ông bà làm thủ tục sang tên cho con gái nhưng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông bà hết hạn, nên phải đến UBND huyện Gia Lộc để làm thủ tục gia hạn. Sau khi làm xong thủ tục này thì vợ chồng ông Đỉnh lại không trả lại diện tích đất xây lấn sang. Mặc dù đã được chính quyền thôn, xã hòa giải nhưng gia đ nh ông Đỉnh v n không nhất trí. Do vậy, ông bà làm đơn kh i kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc giải quyết buộc vợ chồng ông Đỉnh, bà Ngoãn phải trả lại ph n đất lấn chiếm khoảng 7,2m2 (chiều dài khoảng 09m, chiều ngang giáp mặt đường xóm là 0,8m) của thửa đất 163, tờ bản đồ số 9.
Sau bu i thẩm định ngày 26/12/2024, ông bà xác định nhà ông Đỉnh đang lấn chiếm sang thửa đất của ông bà 4,4m2, ngoài những ph n có tranh chấp với nhà ông Đỉnh th những điểm mốc giới khác những ph n giáp ranh với các thửa còn lại không có tranh chấp và xác định điểm A16 là mốc giới chính xác giữa hai bên. Ông bà thay đ i một ph n yêu c u kh i kiện là: đề nghị Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông Đỉnh, bà Ngoãn phải trả lại cho ông bà diện tích đất mà gia đ nh ông Đỉnh đã xây dựng lấn sang là 4,4m2, được đánh dẩu b i các điểm A16A1A2 đến A16, xác định mốc giới giữa hai bên là t điểm A16 kéo đến điểm A2.
Tại bản tự khai, các lời khai, quá tr nh giải quyết vụ án, anh Nguyễn Khắc T – người được ông Nguyễn Khắc Đ, bà Nguyễn Thị N uỷ quyền trình bày:
Bố m anh (ông Đỉnh, bà Ngoãn) mua 01 thửa đất của ông Nguyễn Văn Tân (là con trai của ông Nguyễn Văn Đệ và là anh trai của ông Nguyễn Văn Biêng) vào năm 1989, tuy nhiên thời điểm này ông Tân đang trong miền Nam nên ông Đệ và ông Biêng nhà thay mặt ông Tân bán cho bố m anh thửa đất này. Sau khi mua được đất th gia đ nh anh đã ra đây , khi đó thửa đất này có ngôi nhà tre và cây cối xung quang, xung quanh thửa đất th có các bờ rào dậu để phân định mốc giới với các hộ khác, còn giáp ranh với thửa đất ao hiện nay của nhà ông Biêng chỉ có bờ đất của bờ ao. Thửa đất ao này th h nh thể xung quanh không phải là đường th ng mà chỉ là bờ đất chạy ngoằn ngh o. Khoảng năm năm 1991 – 1992, bố m anh phá nhà tre để xây nhà mái bằng và xây tường xung quanh thửa đất căn cứ trên bờ rào bờ dậu cũ, còn ph n giáp ao nhà ông Biêng th bố anh cũng xây bức tường dựa trên bờ đất ngoằn ngh o của ao. Sau khi thu thập tài liệu của UBND xã Phạm Trấn lưu trữ th anh thấy bản đồ hiện trạng năm 2008 th h nh dạng thửa đất nhà anh đúng với hiện trạng sử dụng vào năm 2008, ph n giáp ao với nhà ông Biêng đúng h nh dạng ngoằn ngh o, lúc này trên ph n ngoằn ngh o này v n còn bức tường bố m anh xây t những năm 1991 – 1992. Đến ngày 10/02/1993, ông Đỉnh, bà Ngoãn đã được Chủ tịch UBND tỉnh Hải Hưng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào s cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 596, thửa đất số 162, tờ bản đồ 09, diện tích 384m2 (200m2 đất , 184m2 đất vườn), địa chỉ: Thôn Côi H, xã Phạm T, huyện Gia L, tỉnh Hải Dương và được Chủ tịch UBND huyện Gia Lộc hợp pháp hóa vào ngày 25/10/2004.
Khoảng năm 2013, vợ chồng chồng ông Biêng lấp thửa ao, giáp ranh giữa nhà anh và thửa ao của ông Biêng lúc này v n là bức tường ngoằn ngh o do bố m anh xây t những năm 1991 -1992. Đến năm 2014, bố m anh phá ngôi nhà mái bằng và xây ngôi nhà 02 t ng như hiện nay và bức tường phía trước nhà (giáp ng ); còn bức tường giáp lối đi vào đất của ông Biêng, bức tường phía sau nhà, bức tường giáp ao nhà ông Biêng th bố anh v n để lại. Đến năm 2017, bố anh thấy bức tường giáp ao nhà ông Biêng đ nát nên định phá đi để xây tường mới. Lúc này, ông Biêng biết chuyện th sang nói chuyện với nội dung hai nhà đ i đất để xây bức tường th ng chứ không để ngoằn ngh o như bản đồ hiện trạng năm 2008 thể hiện. Bố anh và ông Biêng đồng ý đ i đất, kéo t gốc cây nhãn (theo sơ đồ thẩm định ngày 26/12/2024 của Tòa án th điểm này được thể hiện là điểm A16), kéo dài lên hết thửa đất, hai bên chăng dây và nhà anh thuê thợ xây tường mới theo điểm căng dây này, hiện nay bức tường này v n còn (theo sơ đồ thẩm định th bức tường này được thể hiện b i điểm A16 kéo lên A1). Việc đ i đất hai bên chỉ th a thuận miệng, không lập thành văn bản, không có số liệu cụ thể mà chỉ là hai bên căng dây theo đường th ng nên cũng không thể xác định hai bên đ i đất cho nhau là bao nhiêu. Khoảng năm 2019, gia đ nh ông Biêng đã xây nhà cấp 4 bằng tôn theo giáp ranh đã đ i đất với nhà anh và đến bây giờ. Sau đó năm 2021, nhà anh đ bê tông vườn cũ và bắn lán để xe như hiện trạng bây giờ.
Nay nguyên đơn kh i kiện yêu c u bị đơn phải trả lại 4,4m2 – được đánh dấu b i các điểm A16A1A2 đến A16 và xác định mốc giới giữa hai bên là điểm A16 đến A2 th bị đơn không đồng ý v hai bên đã đ i đất cho nhau và ranh giới giữa hai nhà là điểm A16 đến điểm A1 – đây là bức tường nhà anh xây vào năm 2017.
ời khai của ông Nguyễn Văn Pha cung cấp: Năm 2017, đội thợ xây của ông được gia đ nh ông Đỉnh thuê xây bếp và xây tường giáp ao nhà ông Biêng. Khi xây xong bếp th tiến hành xây tường giáp ao nhà ông Biêng. Lúc đ u, nhà ông Đỉnh có ý định xây tường giáp ao nhà ông Biêng theo bức tường cũ trước đây, ông biết bức tường cũ này được xây t lâu, lúc đó bức tường này ngoằn ngh o, không th ng; do bức tường này đã cũ, có ch đ , có ch thấp, có ch cao nên nhà ông Đỉnh mới xây lại. Khi định xây tường th ông Biêng sang nói chuyện với gia đ nh ông Đỉnh về việc đ i đất để hai gia đ nh có bức tường th ng. Gia đ nh ông Đỉnh và gia đ nh ông Biêng đồng ý và thống nhất kéo t điểm cuối giáp bếp nhà ông Đỉnh lên đ u đất giáp đường xóm là một đường th ng, 2 gia đ nh cùng căng dây theo đường th ng và đội thợ xây xây tường theo đường dây của hai gia đ nh đã th a thuận. Trong vòng 02 ngày, đội xây của ông đã xây xong bức tường này, hiện bức tường này v n còn. Khi xây th gia đ nh ông Biêng và gia đ nh ông Đỉnh đều có mặt, hai bên đều vui v , không có ý kiến hay tranh chấp g . Ông cũng là người cùng thôn với gia đ nh ông Biêng và ông Đỉnh, t trước đến nay không thấy hai bên tranh chấp g về mốc giới đất, hai bên sử dụng yên n t trước đến nay.
ời khai của ông Ph ng Danh Tháp cung cấp: Năm 2017, đội thợ xây của ông Nguyễn Văn Pha trong đó có ông được gia đ nh ông Đỉnh thuê xây bếp và xây tường giáp ao nhà ông Biêng. Khi xây xong bếp th tiến hành xây tường giáp ao nhà ông Biêng. Lúc đ u, nhà ông Đỉnh có ý định xây tường giáp ao nhà ông Biêng theo bức tường cũ trước đây, ông thấy bức tường này ngoằn ngh o, không th ng, lúc này bức tường này đã cũ, có ch đ , có ch thấp, có ch cao nên nhà ông Đỉnh mới xây lại. Khi định xây tường th ông thấy ông Biêng sang nói chuyện với gia đ nh ông Đỉnh về việc đ i đất để hai gia đ nh có bức tường th ng. Gia đ nh ông Đỉnh và gia đ nh ông Biêng đồng ý và thống nhất kéo t điểm cuối giáp bếp nhà ông Đỉnh lên đ u đất giáp đường xóm là một đường th ng, 2 gia đ nh cùng căng dây theo đường th ng và đội thợ xây của ông gồm ông, ông Pha, ông Khang, ông Tấn xây tường theo đường dây của hai gia đ nh đã th a thuận. Trong vòng 02 ngày, các ông đã xây xong bức tường này, hiện bức tường này v n còn. Khi xây th gia đ nh ông Biêng và gia đ nh ông Đỉnh đều có mặt, hai bên đều vui v , không có ý kiến hay tranh chấp g .
ời khai của ông Nguyễn Văn Điềm (hộ giáp ranh phía sau thửa đất ao của ông Biêng) cung cấp: Gia đ nh ông là hộ giáp ranh với thửa đất của gia đ nh ông Biêng, ranh giới giữa hai bên không có tranh chấp g , ranh giới đã được phân định bằng bức tường nhà, tường bao ông Biêng đã xây dựng.
ời khai của ông Nguyễn Văn Nghị cung cấp: Ông nhớ ranh giới giữa thửa đất ao của gia đ nh ông Biêng với thửa đất của gia đ nh ông Đỉnh trước đây là đường ngoằn ng o. Hai bên có đ i đất cho nhau hay không th ông không r . Hiện nay, ranh giới là đường th ng. Gia đ nh ông Đỉnh đã xây tường bao ngăn cách, gia đ nh ông Đỉnh lợp nhà tạm, bắn mái tôn ngay trên bức tường ông Đỉnh đã xây. Hai bên sử dụng n định, không có tranh chấp. Chỉ khi ông Biêng có ý định đ i đất cho con gái th hai bên mới nảy sinh tranh chấp về mốc giới.
ời khai của ông Nguyễn Văn Sinh - trưởng thôn Côi Hạ cung cấp: T năm 1998 đến nay có lúc ông là trư ng thôn, có lúc ông là bí thư thôn Côi Hạ, hiện nay ông là trư ng thôn Côi Hạ. Trong thời gian đó, gia đ nh ông Biêng và gia đ nh ông Đỉnh không có bất kỳ tranh chấp g về đất đai nên thôn cũng chưa bao giờ phải tiến hành hòa giải cho hai bên. Cách đây rất lâu, giữa thửa đất ao của ông Biêng và thửa đất của ông Đỉnh th hai bên có th a thuận đ i đất cho nhau để lấy ranh giới là đường th ng v trước đây ranh giới là đường ngoằn ngèo. Sau khi đ i đất, hai gia đ nh sử dụng đất n định. Hai bên mới xảy ra tranh chấp về mốc giới và địa phương đã hòa giải vào năm 2024.
Kết quả xác minh tại BND xã Trường Tân, thành phố Hải Phòng (cũ là xã Phạm Trấn, Gia ộc, Hải Dương) cung cấp:
Đối với thửa đất mang tên ông Nguyễn Văn B: Theo bản đồ và s mục kê 299 gồm: Thửa đất số 231, tờ bản đồ 9, diện tích 124,0m2, loại đất: A và thửa đất số 233, tờ bản đồ 9, diện tích 666,0m2, loại đất: T; cả hai thửa đất trên đứng tên ông Nguyễn Văn Đệ (bố ông Nguyễn Văn B). Theo bản đồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1991 gồm: Thửa đất 163, tờ bản đồ số 9, diện tích 107,0m2 và thửa đất 159, tờ bản đồ số 9, diện tích 517,0m2, cả hai thửa đất trên đứng tên ông Nguyễn Văn Đệ (bố ông Biêng). Chênh lệch diện tích giữa số liệu bản đồ 1991 với số liệu bản đồ 299 bị giảm 166,0m2 là do khi đo đất đã đo cả ph n đường giao thông của tập thể. Đến năm 2005, ông Đệ tặng cho ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị K và được cấp GCNQSDĐ gồm: GCNQSDĐ số vào s cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00060/CQ-PT, thửa đất số 163 tờ bản đồ số 9, diện tích 107,0 m2 trong đó đất NTTS 107,0m2, địa chỉ thửa đất tại thôn Côi Hạ, xã Phạm Trấn (nay là xã Trường Tân) và GCNQSDĐ số 438845 vào s số H00059/CQ-PT, thửa đất số 159 tờ bản đồ số 9, diện tích 517,0m2, trong đó đất 300,0m2, đất trồng cây hàng năm 217,0m2, địa chỉ: thôn Côi Hạ, xã Phạm Trấn (nay là xã Trường Tân). Theo bản đồ đo đạc hiện trạng năm 2008 th 02 thửa đất trên là thửa đất số 97, tờ bản đồ số 27, diện tích 660,0m2 trong đó bao gồm cả đất , đất trồng cây hàng năm, đất NTTS đứng tên ông Nguyễn Văn B. Chênh lệch diện tích giữa số liệu bản đồ 1991 với số liệu bản đồ 2008 lại tăng 36,0 m2 là do khi đo đất đo thêm ph n khe nối 02 thửa đất của gia đ nh.
Đối với thửa đất mang tên ông Nguyễn Khắc Đ: Theo bản đồ và s mục kê 299 là thửa đất số 232, tờ bản đồ 9, diện tích 355,0m2, loại đất: T, đứng tên ông Nguyễn Văn Tân (là anh trai Nguyễn Văn B). Theo bản đồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1991 là thửa đất 162, tờ bản đồ số 9, diện tích 453,0m2 mang tên ông Nguyễn Khắc Đ. Kiểm tra danh sách các hộ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đợt 1 năm 1992, ông Nguyễn Khắc Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 162, tờ bản đồ số 9, diện tích 453,0m2, trong đó đất 200,0m2, đất vườn 253,0m2. Chênh lệch diện tích giữa số liệu bản đồ 1991 với số liệu bản đồ 299 bị tăng 98,0m2 là do sai số đo đạc, tính toán. Tuy nhiên theo danh sách các hộ gia đ nh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có sai sót đề nghị UBND huyện Gia Lộc phê duyệt năm 2004 th nhà ông Đỉnh được UBND huyện Gia Lộc xác nhận sử dụng hợp pháp ngày 25/10/2004, số GCNQSDĐ …972847, vào s số 596 QSDĐ/, thửa đất số 162, tờ bản đồ số 9, diện tích 384m2, trong đó đất 200m2, đất trồng cây 184m2. Như vậy, thửa đất của nhà ông Đỉnh chỉ được cấp 384,0m2. Theo bản đồ đo đạc hiện trạng năm 2008 thì thửa đất số 101, tờ bản đồ số 27, diện tích 405,0m2 đứng tên ông Nguyễn Khắc Đ. Chênh lệch diện tích giữa số liệu bản đồ 1991 với số liệu bản đồ 2008 bị giảm: 48,0m2 là do sai số đo đạc, tính toán.
Đối với hồ sơ cấp GCNQSDĐ của gia đ nh ông Biêng và gia đ nh ông Đỉnh hiện nay địa phương không lưu trữ.
Quá tr nh sử dụng đất, gia đ nh ông Biêng, gia đ nh ông Đỉnh không lấn chiếm đất công; không có tranh chấp mốc giới với các hộ giáp ranh còn lại; cũng không đ i đất, mua hoặc bán đất cho ai khác v không có tài liệu nào thể hiện việc này. Sau khi Tòa án thẩm định th kích thước, h nh thể, diện tích khác so với GCNQSDĐ của 2 bên được cấp, nhà ông Biêng tăng nhiều diện tích là do ông Biêng có sử dụng thêm ph n đất khe nối giữa hai thửa đất, còn nhà ông Đỉnh tăng do sai số khi đo đạc. Hơn nữa, GCNQSDĐ của 2 bên được cấp căn cứ trên bản đồ năm 1991, tuy nhiên do bản đồ năm 1991 không có hệ t a độ nên độ chính xác không cao, nên việc khác về kích thước, h nh thể, diện tích là sai số khi đo đạc. Do vậy sẽ tôn tr ng hiện trạng đang sử dụng, các bên sau này có thể liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để cấp đ i lại GCNQSDĐ theo h nh thể, kích thước, diện tích đúng với hiện trạng sử dụng.
Kết quả xác minh tại Văn phòng đăng ký đất đai huyện Gia ộc, Văn phòng đăng ký đất đai t nh Hải Dương: Không t m thấy hồ sơ cấp GCNQSDĐ của gia đ nh ông Biêng và gia đ nh ông Đỉnh.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 26/12/2024 thể hiện:
T ng diện tích hiện trạng đất ông Biêng, bà Khuyên đang sử dụng ký hiệu là S2 133,7m2. T ng diện tích hiện trạng đất ông Đỉnh đang sử dụng ký hiệu là S1 (395,4m2) + S3 (4,4m2) = 399,8m2. Theo ông Biêng và anh Toàn xác định ph n đất tranh chấp ký hiệu là S3 có diện tích 4,4m2 (cạnh Đông Bắc giáp ph n đất ông Biêng có chiều dài 10,99m; cạnh Tây Nam giáp ph n đất của ông Đỉnh có chiều dài 10,93m; cạnh Đông Nam giáp ng đi có chiều dài 0,80m). Trên ph n đất tranh chấp có các tài sản: 01 đoạn tường xây gạch đ sáu l do ông Đỉnh xây năm 2017, chiều dài 10,99m, cao 1,8m; 01 ph n mái tôn lạnh do ông Đỉnh lợp năm 2021 có diện tích 4,4m2; 01 ph n sân trạt bê tông do ông Đỉnh làm năm 2021, dày 1,5cm, diện tích 4,4m2.
Theo kết quả định giá tài sản ngày 15/4/2025: Đất có giá trị 900.000đ/m2; đất nuôi trồng thủy sản có giá trị 75.000đ/m2, đất trồng cây lâu năm có giá trị 75.000đ/m2. 01 đoạn tường xây gạch đ sáu l do ông Đỉnh xây năm 2017, chiều dài 10,99m, cao 1,8m có giá trị 383.927đ, ph n móng có giá trị 792.407đ. 01 ph n mái tôn lạnh do ông Đỉnh lợp năm 2021 có diện tích 4,4m2 có giá trị 1.259.547đ. 01 ph n sân trạt bê tông do ông Đỉnh làm năm 2021, dày 1,5cm, diện tích 4,4m2 có giá trị 800.424đ.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn giữ nguyên quan điểm kh i kiện yêu c u bị đơn phải trả lại ph n đất lấn chiếm được đánh dấu b i các điểm A16A1A2 đến A16 có diện tích 4,4m2, xác định mốc giới giữa hai nhà là điểm A16 đến điểm A2.
Bị đơn không đồng ý với yêu c u kh i kiện của nguyên đơn, xác định bị đơn không lấn chiếm đất của nguyên đơn, xác định mốc giới giữa bị đơn với nguyên đơn là điểm A16 kéo lên A1 v hai bên đã đ i đất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hải Phòng tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá tr nh giải quyết vụ án: Xác định Tòa án nhân dân khu vực 11 – Hải Phòng thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng thời hạn tố tụng, trong quá tr nh giải quyết xét xử tại phiên tòa đã tuân theo đúng tr nh tự tố tụng. Các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 158, Điều 165, Điều 166 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 175, Điều 176 Bộ luật Dân sự; Điều 106, Điều 166, Điều 170 Luật đất đai 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận yêu c u kh i kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả diện tích đất là 4,4m2, xác định mốc giới là điểm A16 đến điểm A2.
Xác định ph n đất 4,4m2 thuộc th a đất 162, tờ bản đồ số 9, địa chỉ: Thôn Côi H, xã Phạm T, huyện Gia L, tỉnh Hải Dương (nay là thôn Côi H, xã Trường T, thành phố Hải Phòng) thuộc quyền sử dụng của bị đơn.
2. Về án phí, chi phí tố tụng:
- Nguyên đơn phải chị án phí DSST.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại ch và định giá tài sản: Nguyên đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại ch và định giá tài sản.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền giải quyết, thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị K kh i kiện yêu c u ông Nguyễn Khắc Đỉnh, bà Nguyễn Thị N, cùng có địa chỉ: thôn Côi Hạ, xã Phạm Trấn, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương (nay là thôn Côi H, xã Trường T, Hải Phòng), phải trả lại diện tích đất lấn chiếm là 4,4m2. Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp quyền sử dụng đất (ph n mốc giới)”; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Hải Phòng.
Về phạm vi kh i kiện: Trong đơn kh i kiện, ông Biêng, bà Khuyên yêu c u ông Đỉnh, bà Ngoãn trả lại ph n đất lấn chiếm khoảng 7,2m2 (chiều dài khoảng 09m, chiều ngang giáp mặt đường xóm là 0,8m) của thửa đất 163, tờ bản đồ số 9. Tuy nhiên trong quá tr nh giải quyết, ông Biêng, bà Khuyên thay đ i nội dung yêu c u kh i kiện này, cụ thể: buộc vợ chồng ông Đỉnh, bà Ngoãn phải trả lại cho ông bà diện tích đất mà gia đ nh ông Đỉnh đã xây dựng lấn sang khoảng 4,4m2, được đánh dẩu b i các điểm A16A1A2 đến A16 (theo sơ đồ thẩm định), xác định mốc giới là điểm A16 đến điểm A2. Xét thấy, sự thay đ i yêu c u kh i kiện của nguyên đơn không vượt quá phạm vi kh i kiện ban đ u nên Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận.
Về nội dung tranh chấp: Xem xét yêu c u kh i kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả lại ph n đất bị lấn chiếm là 4,4m2 (ký hiệu S3) với lý do thửa đất ao của nguyên đơn bị thiếu chiều dài giáp mặt ng là 0,8m so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp, HĐXX xem xét các vấn đề sau đây:
Về nguồn gốc đất tranh chấp:
Đối với thửa đất đang tranh chấp của ông Biêng, bà Khuyên: Theo bản đồ 299 là thửa đất số 231, tờ bản đồ 9, diện tích 124,0m2, loại đất: ao, đứng tên ông Nguyễn Văn Đệ (bố ông Biêng). Theo bản đồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1991 là thửa đất 163, tờ bản đồ số 9, diện tích 107,0m2 đứng tên ông Đệ (bố ông Biêng). Đến năm 2005, ông Đệ tặng cho ông Biêng, bà Khuyên và được cấp GCNQSDĐ số vào s cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00060/CQ-PT, thửa đất số 163 tờ bản đồ số 9, diện tích 107,0m2, đất nuôi trồng thủy sản. Theo bản đồ đo đạc hiện trạng năm 2008 th 02 thửa đất của gia đ nh ông Biêng gộp thành thửa đất số 97, tờ bản đồ số 27, diện tích 660,0m2 trong đó bao gồm cả đất , đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản.
Đối với thửa đất đang tranh chấp của ông Đỉnh, bà Ngoãn: Theo bản đồ và s mục kê 299 là thửa đất số 232, tờ bản đồ 9, diện tích 355,0m2, loại đất: T, đứng tên ông Nguyễn Văn Tân (là anh trai ông Biêng). Theo bản đồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1991 là thửa đất 162, tờ bản đồ số 9, diện tích 453,0m2 mang tên ông Đỉnh, trong đó đất 200,0m2, đất vườn 253,0m2. Tuy nhiên theo danh sách các hộ gia đ nh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có sai sót đề nghị UBND huyện Gia Lộc phê duyệt năm 2004 th nhà ông Đỉnh được xác nhận sử dụng hợp pháp thửa đất số 162, tờ bản đồ số 9, diện tích 384m2 , trong đó đất 200m2, đất trồng cây 184m2, như vậy nhà ông Đỉnh chỉ được cấp 384,0m2. Theo bản đồ đo đạc hiện trạng năm 2008 th thửa đất số 101, tờ bản đồ số 27, diện tích 405,0m2 đứng tên ông Đỉnh.
Các bên đều xác định nguồn gốc của hai thửa đất đang tranh chấp giữa nguyên đơn, bị đơn đều là của ông Nguyễn Văn Đệ - bố của ông Biêng. Sau đó, các thửa đất đã được cho tặng, chuyển nhượng, hiện nay hai thửa này đều đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hai bên không có ý kiến hay tranh chấp g về việc này, do vậy HĐXX không xem xét.
Về xác định ranh giới, mốc giới giữa hai thửa đất:
Sau khi Tòa án tiến hành thẩm định th kích thước các cạnh, h nh thể thửa đất, t ng diện tích khác so với GCNQSDĐ của 2 bên được cấp. Địa phương xác định đây là sai số khi đo vẽ, hơn nữa do GCNQSDĐ của 2 bên được cấp căn cứ trên bản đồ năm 1991, tuy nhiên do bản đồ năm 1991 không có hệ t a độ nên độ chính xác không cao. Địa phương cũng xác định, trong quá tr nh sử dụng đất hai nhà không lấn chiếm đất công; không có tranh chấp mốc giới với các hộ giáp ranh còn lại; đồng thời hai bên cũng không đ i đất, mua hoặc bán đất cho ai khác; nên c n tôn tr ng kích thước và h nh thể những ph n không có tranh chấp với các hộ giáp ranh còn lại theo sơ đồ thẩm định ngày 26/12/2024, chỉ xem xét tranh chấp ph n đất giáp ranh giữa hai nhà. Hơn nữa hiện nay, không thu thập được hồ sơ cấp GCNQSDĐ của nhà ông Biêng, nhà ông Đỉnh để xem xét, đánh giá, xác định chính xác mốc giới, ranh giới khi cấp GCNQSDĐ. Sau khi nhận đất, hai bên cũng không đưa ra được chứng cứ chứng minh có kiểm tra lại diện tích, kích thước, h nh thể các thửa đất đã được cấp theo GCNQSDĐ và cũng th a nhận trong quá tr nh sử dụng đất có sự thay đ i về mốc giới, ranh giới. Do vậy, Hội đồng xét xử không căn cứ vào GCNQSDĐ để xác định ranh giới, mốc giới của nhà ông Biêng, ông Đỉnh.
Xem xét quá tr nh sử dụng đất và các mốc giới:
Nguyên đơn và bị đơn đều xác định các ph n giáp ranh còn lại với các thửa đất khác không có tranh chấp, chỉ tranh chấp với nhau bức tường bị đơn xây dựng năm 2017, được đánh dấu b i điểm A16 đến điểm A1. Nguyên đơn xác định mốc giới giữa hai bên là t điểm A16 đến A2, bị đơn xác định mốc giới giữa hai bên là điểm A16 đến A1.
Hai bên đều có quan điểm mốc A16 tại sơ đồ thẩm định ngày 26/12/2024 là điểm mốc đúng, không có tranh chấp. Do vậy, có căn cứ xác định điểm A16 này là mốc giới giữa hai bên. Đồng thời, hai bên cùng xác định trước đây ranh giới giữa hai thửa đất đang tranh chấp là đường ngoằn ng o, sau đó quá tr nh sử dụng có sự thay đ i về ranh giới, mốc giới và hiện nay là bức tường th ng do bị đơn xây dựng vào năm 2017. Ranh giới giữa hai bên là đường ngoằn ngh o, không th ng được thể hiện trong trích lục bản đồ địa chính, hồ sơ kỹ thuật thửa đất, biên bản xác định mốc giới, ranh giới thửa đất đối với hai thửa đất năm 2008 do Tòa án thu thập tại Trung tâm công nghệ thông tin S tài nguyên môi trường tỉnh Hải Dương, hai bên th a nhận các tài liệu này thể hiện đúng hiện trạng sử dụng đất vào năm 2008 nhưng hiện nay có sự thay đ i do quá tr nh sử dụng đất của hai bên.
Do đó c n xem xét bức tường ranh giới giữa hai bên được thể hiện trên sơ đồ thẩm định t điểm A16 đến A1: Nguyên đơn xác định bức tường bị đơn xây vào năm 2017 đã lấn chiếm sang thửa đất ao của nguyên đơn với chiều rộng (giáp ngõ) 0,8m, chiều dài 10,93m; tuy nhiên khi bị đơn xây dựng nguyên đơn có biết và phản đối, sau đó lại không có ý kiến v nghĩ cho nhau vài chục phân cũng không có vấn đề g ; nguyên đơn xác định không có th a thuận đ i đất với bị đơn. Trong khi đó, bị đơn xác định bức tường do bị đơn xây dựng vào năm 2017 là ranh giới của hai bên v khi xây tường bị đơn và nguyên đơn có th a thuận đ i đất cho nhau do trước đây giáp ranh giữa hai thửa đất là đường ngoằn nghèo, đ i cho nhau để lấy ranh giới là đường th ng. Bên cạnh đó, ông Tháp, ông Pha là đội thợ xây cung cấp khi các ông xây bức tường này là do gia đ nh ông Đỉnh và gia đ nh ôn Biêng có th a thuận đ i đất cho nhau th các ông mới xây được, khi xây tường hai bên vui v , không có mâu thu n. Địa phương cũng như đại diện thôn Côi Hạ xác định trước đây hai bên gia đ nh sử dung n định, không có tranh chấp, thời gian g n đây mới xảy ra tranh chấp về mốc giới.
Hội đồng xét xử thấy t năm 2017 đến trước thời điểm nguyên đơn có ý định tặng cho cho con gái đất th nguyên đơn là chủ sử dụng đất không có ý kiến g về việc bị đơn xây tường, mặc dù nguyên đơn khai là có phản đối nhưng đây chỉ lời khai, không có tài liệu chứng minh, hơn nữa địa phương cũng như đại diện thôn cũng xác định không có ý kiến hay phải hòa giải cho hai bên về mốc giới. Bên cạnh đó, nguyên đơn cũng khai biết bị đơn xây, có phản đối nhưng sau lại không có ý kiến, hai bên sử dụng đất n định, không có tranh chấp trước khi kh i kiện. Mặc dù nguyên đơn không th a nhận việc đ i đất nhưng có một số người làm chứng xác định có việc đ i đất, khi xây tường có mặt cả hai bên, không ai có ý kiến phản đối. Bị đơn đã xây bức tường này vào năm 2017, sau đó nguyên đơn đã xây dựng nhà tạm trên thửa đất ao và có bịt tôn xung quanh nhà tạm, bắn cũng như bịt tôn vào bức tường này của bị đơn. Do vậy, xác định bức tường dài 10,93m là ranh giới giữa hai thửa đất, gia đ nh ông Đỉnh đã sử dụng đất đúng ranh giới.
T những phân tích, đánh giá trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận yêu c u yêu c u kh i kiện của nguyên đơn, xác định bị đơn không lấn chiếm diện tích đất 4,4m2 của nguyên đơn.
Do hiện trạng sử dụng đất của nguyên đơn và bị đơn có kích thước các cạnh, h nh thể thửa đất, t ng diện tích khác so với GCNQSDĐ của 2 bên được cấp. Nên các đương sự có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng hiện trạng sử dụng đất của gia đ nh mình.
Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án th nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu c u kh i kiện không được chấp nhận.
Về chi phí thẩm định tại ch và định giá tài sản: Do yêu c u kh i kiện của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu toàn bộ là 14.000.000đ (đã nộp).
V các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 158, Điều 165, Điều 166 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 175, Điều 176 Bộ luật Dân sự; Điều 106, Điều 166, Điều 170 Luật đất đai 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Không chấp nhận yêu c u kh i kiện của ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị K về việc buộc ông Nguyễn Khắc Đỉnh, bà Nguyễn Thị N phải trả diện tích đất là 4,4m2 (ký hiệu S3) được giới hạn b i các điểm b i các điểm A16A1A2 đến A16, xác định mốc giới là điểm A16 đến điểm A2.
Xác định ph n đất có ký hiệu S3 4,4m2, được giới hạn b i các điểm A16A1A2 đến A16 (có sơ đồ k m theo) thuộc th a đất 162, tờ bản đồ số 9, địa chỉ: Thôn Côi H, xã Phạm T, huyện Gia L, tỉnh Hải Dương (nay là thôn Côi H, xã Trường T, thành phố Hải Phòng) thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Khắc Đ, bà Nguyễn Thị N.
2. Về án phí: Ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị K phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm, được đối tr vào 300.000đ ông bà đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/24 số 0000578 ngày 18/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 – Hải Phòng). Ông Biêng, bà Khuyên đã nộp đủ.
3. Về chi phí thẩm định tại ch và định giá tài sản: Ông Nguyễn Văn Biêng và bà Nguyễn Thị K phải chịu 14.000.000đ (đã nộp đủ).
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự th người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu yêu c u thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hải Phòng; - Thi hành án dân sự thàn phố Hải Phòng; - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 – Hải Phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Bùi Thị Giang |