vanban.org

Bản án 19/2024/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 01/08/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thế Văn phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự Xử phạt bị cáo Phạm Thế Văn 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 18/12/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thế Văn - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thế Văn phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/HS-ST
Ngày 20-02-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH - TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thiện Lợi.

2. Bà Hoàng Thị Phụng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Thế V, sinh ngày 02/5/1978, tại Thái Bình;

Nơi cư trú: Thôn An Cơ Bắc, xã Thanh Tân, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Phạm Đức Minh (đã chết, ông Minh được Nhà nước tặng Bằng ghi công vì có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước và Huy chương vì sự nghiệp giáo dục) và bà Tạ Thị Bé (đã chết); Có vợ là Ninh Tú Diệp, có 03 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2023 đến ngày 24/12/2023 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Được trích xuất có mặt tại phiên toà.

- Người chứng kiến:

1. Anh Phạm Ngọc Bắc, sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn Tiên Sơn, xã Vũ Chính, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)

2. Anh Phạm Văn Thái, sinh năm 1981; Địa chỉ: Số nhà 01, ngõ 217, đường Lê Đại Hành, tổ 13, phường Kỳ Bá, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 18/12/2023, Phạm Thế Văn đi xe ôm của người không quen biết từ nhà ở đến khu vực khu tái định cư Đồng Lôi thuộc tổ 03, thuộc phường Kỳ Bá, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình thì xuống xe và bảo người xe ôm đứng chờ ở ngoài. Văn đi bộ một đoạn thì gặp và mua được của một người nam giới không rõ tên, tuổi, địa chỉ hỏi mua được 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Sau đó, Văn cầm gói ma túy mua được ở trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ ra chỗ người xe ôm đang đứng chờ và đi về đến khu vực thôn Nam Hưng, xã Vũ Lạc, thành phố Thái Bình thì Văn xuống xe và trả tiền người xe ôm rồi đi bộ để tìm chỗ để sử dụng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Văn đi bộ đến khu đường liên xã thuộc thôn Nam Hưng, xã Vũ Lạc, thành phố Thái Bình thì gặp tổ công tác của Công an thành phố Thái Bình, tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra đối với Văn. Tại đây, trước sự chứng kiến của anh Phạm Ngọc Bắc và anh Phạm Văn Thái, Văn đã tự giác đưa từ lòng bàn tay trái của Văn ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói, bên ngoài được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, mở ra bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục, Văn khai nhận đó là Heroine vừa mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã cho số ma túy trên vào trong phong bì dán kín trên mép dán có chữ ký của Văn và những người chứng kiến. Sau đó tổ công tác đã đưa Văn và mời những người chứng kiến về trụ sở Công an xã Vũ Lạc, thành phố Thái Bình để làm rõ. Tại trụ sở Công an xã Vũ Lạc, thành phố Thái Bình, tổ công tác đã thu giữ tại túi quần bên trái của Văn đang mặc 01 chiếc điện thoại di động VSmart, màu trắng đã qua sử dụng, ngoài ra không thu giữ gì thêm. Sau đó tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quản tang và niêm phong vật chứng.

Bản kết luận giám định số 1818/KL-KTHS ngày 22/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật quản lý của Phạm Thế Văn gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,1618 gam (không phẩy một nghìn sáu trăm mười tám gam).

Tại bản cáo trạng số 25/CT-VKSTPTB ngày 26/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố Phạm Thế Văn về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Phạm Thế Văn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của minh như đã nêu trên.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm đã truy tố trong bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Thế Văn phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Thế Văn mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2023. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra còn đề nghị giải quyết về xử lý vật chứng và án phí.

Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận gì đối với bản luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng: Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thế Văn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người chứng kiến và còn được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an thành phố Thái Bình lập ngày 18/12/2023; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, biên bản kiểm tra và quản lý điện thoại do Công an thành phố Thái Bình lập ngày 18/12/2023 tại trụ sở Công an xã Vũ Lạc, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; 1818/KL-KTHS ngày 22/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 17 giờ ngày 18/12/2023 tại khu vực đường liên xã thuộc thôn Nam Hưng, xã Vũ Lạc, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, Phạm Thế Văn tàng trữ trái phép 01 gói ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1618 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình phát hiện, bắt quả tang. Như vậy hành vi của bị cáo Phạm Thế Văn đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

[3] Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà còn xâm phạm đến an ninh, trật tự công cộng và an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

đối với bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; có bố đẻ được Nhà nước tặng Bằng ghi công vì có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước và Huy chương vì sự nghiệp giáo dục nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, có như vậy mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo nói riêng cũng như răn đe, đấu tranh và phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật và chính sách khoan hồng của Nhà nước ta, tạo điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo sớm trở thành người có ích cho xã hội. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, trước khi bị bắt làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định và không có tài sản riêng.

[6] Về xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo hoàn lại sau giám định thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 chiếc điện thoại di động VSmart, màu trắng đã qua sử dụng không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

[7] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua ma túy của một người đàn ông tại khu vực khu tái định cư Đồng Lôi thuộc tổ 03, thuộc phường Kỳ Bá, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình nhưng không biết tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thế Văn phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Phạm Thế Văn 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 18/12/2023.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 0,1174 gam Heroine thu giữ của bị cáo Phạm Thế Văn

hoàn trả sau giám định được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định, bên ngoài ghi số 1818/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

- Trả lại bị cáo Phạm Thế Văn 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart màu trắng, đã qua sử dụng.

(Vật chứng trên đã chuyển Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 26/01/2024).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Phạm Thế Văn phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Thế Văn có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 20/02/2024.

Cỡ chữ