- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2024/HS-ST Ngày 29 - 3 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Bá
Các Hội thẩm nhân dân:
1) Ông Nguyễn Văn Thư
2) Ông Ngô Ánh Khôi
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Tư Thình – Thư ký Toà án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân huyện Núi Thành và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ, lưu giam Công an huyện Núi Thành vụ án hình sự thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2024, đối với bị cáo:
Võ Văn T (tên gọi khác: Sĩn), sinh ngày 08 tháng 12 năm 2002; nơi sinh: huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn AHT, xã Tam Q, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Ngư nghiệp; Trình độ văn hóa: 08/12; con ông Phan Quang D (đã chết) và bà Võ Thị M, sinh năm 1964; Bị cáo chưa có vợ con
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ chuyển sang tạm giam từ ngày 25/11/2023 đến nay. Có mặt tại điểm cầu thành phần.
- Người tham gia tố tụng khác:
1. Ông Nguyễn Duy Ph – Chiến sĩ nhà tạm giữ, lưu giam Công an huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam
2. Ông Nguyễn Minh Th – Chiến sĩ nhà tạm giữ, lưu giam Công an huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 19 giờ 40 phút ngày 24/11/2023, tại thôn An Hải Tây, xã Tam Quang, Núi Thành, Quảng Nam, Tổ công tác thuộc Bộ chỉ huy Bộ đội Biên Phòng tỉnh Quảng Nam, Đồn Biên phòng Cửa khẩu Cảng Kỳ Hà phối hợp Công an xã Tam Quang bắt quả tang Võ Văn T đang cất giấu trên người 01 (một) gói ni lông không màu, có khóa bấm, trên có viền màu đỏ, kích thước (8,3x,5)cm bên trong có các chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy.
Quá trình điều tra, truy tố Võ Văn T khai nhận: Tú là người nghiện ma túy nên thường xuyên mua ma túy đá về sử dụng. Ngày 23/11/2023, Tú dùng gọi điện cho một người phụ nữ ở tại thành phố Đà Nẵng để đặt mua ma túy đá với số tiền là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Võ Văn T đã nhờ người gửi tiền qua tài khoản mà người phụ nữ yêu cầu. Sau khi nhận được tiền, người phụ nữ trên đã gửi ma túy bằng xe khách rồi gọi điện thoại cho T đứng đợi xe ở Quốc lộ 1A thuộc huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam để nhận ma túy. Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 23/11/2023, T đi đến đầu đường ĐT618 giáp với Quốc lộ 1A, đứng đợi một lúc thì có một người đàn ông ngồi trên xe ô tô khách loại For Transit hạ kính chắn gió bên phải xe xuống hỏi T “nhận hàng hả?”, T gật đầu thì người đàn ông đó ném gói ma túy xuống đất nơi T đang đứng. T nhặt gói ma túy rồi chạy xe về nhà lấy ra một ít sử dụng, số ma túy còn lại T cất giấu để sử dụng dần.
Tối ngày 24/11/2023, T lấy gói ma túy đá bỏ vào trong mũ lưỡi trai màu đen rồi đội lên đầu và ra đứng trước nhà thì bị tổ công tác kiểm tra, bắt giữ cùng tang vật. Tiến hành khám xét nơi ở của Võ Văn T, tổ công tác thu giữ 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy, gồm 01 (một) ống thủy tinh, 01 (một) chai nhựa đựng nước loại 500ml, trên nắp chai nhựa có đục 02 (hai) lỗ và 02 (hai) ống hút bằng nhựa. Tiến hành test nhanh chất ma túy đối với mẫu nước tiểu thu của Võ Văn T thì Võ Văn T dương tính với ma túy loại Methamphetamine.
Tại Bản kết luận giám định số 189/KL-KTHS(MT) ngày 30/11/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam kết luận: chất rắn tinh thể màu trắng gửi giám định (mẫu ký hiệu A) là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,878 gam (không phẩy tám trăm bảy mươi tám gam).
Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKS-NT ngày 05 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Võ Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Võ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Võ Văn T từ 15 đến 18 tháng tù.
Về xử lý vật chứng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 đề nghị tịch thu, tiêu hủy các vật chứng liên quan đến vụ án đã tạm giữ.
- Tại phiên tòa bị cáo Võ Văn T thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình. Bị cáo thống nhất với nội dung cáo trạng, rất ăn năn hối lỗi; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Núi Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và truy tố, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn T đã khai nhận: Ngày 23/11/2023, Võ Văn T đã liên lạc với người phụ nữ ở tại thành phố Đà Nẵng (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) tiền ma túy đá nhằm mục đích sử dụng. Sau khi mua được ma túy đá thì bị cáo lấy ra một ít để sử dụng tại nhà, số ma túy còn lại Võ Văn T cất giấu để sử dụng dần. Tối ngày 24/11/2023, T lấy gói ma túy đá bỏ vào mũ lưỡi trai, màu đen đội lên đầu và ra đứng trước nhà thì bị tổ công tác kiểm tra, bắt giữ cùng tang vật.
Đối chiếu lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Vào lúc 19 giờ 40 phút, ngày 24/11/2023, bị cáo Võ Văn T đã có hành vi cất giấu trái phép 0,878gam ma túy, loại Methamphetamine trên người nhằm mục đích sử dụng. Do đó, cáo trạng số 20/CT – VKS - NT ngày 05/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận định: Bị cáo có đủ nhận thức để biết được tác hại của ma túy và những quy định cấm đoán của pháp luật đối với mọi hành vi phạm tội về ma túy. Song bị cáo đã bất chấp pháp luật tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm sử dụng thỏa mãn cho nhu cầu nghiện hút của bản thân. Do vậy, cần phải xử lý bị cáo nghiêm theo quy định của pháp luật Hình sự để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, tỏ rõ sự ăn năn hối cải; bản thân bị cáo là lao động chính đang ở với mẹ già nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội nhưng không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt. Tuy nhiên, bị cáo đã phạm một tội mà cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ các vật chứng liên quan đến vụ án như sau:
+ 01 (một) gói ni lông không màu có khóa bấm, trên khóa bấm có viền màu đỏ, kích thước (8,3x5)cm bên trong có chứa các chất tinh thể rắn màu trắng. Sau khi tiến hành giám định đã hoàn lại 01 phong bì số 189/PC09 (loại bì giấy dùng để gửi công văn), bên ngoài có 09 dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam, có chữ ký của Lê Hoàng Vũ, Mai Thị Lệ Hằng và Phan Văn Cảng, bên trong có: 0,669 gam mẫu A và toàn bộ các bao gói mẫu vật sau giám định
+ 01 (một) ống thuỷ tinh; 01 (một) chai nhựa đựng nước loại 500ml, trên nắp chai có đục 02 (hai) lỗ; 02 (hai) ống hút bằng nhựa.
+ 01 (một) mũ vải lưỡi trai màu đen, hai bên mũ lưỡi trai màu đen có màu trắng đen xen kẽ với nhau, đã qua sử dụng,
+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, đã qua sử dụng, bên trong có gắn thẻ sim viettel số 0389.026.030.
Đây là những vật chứng trực tiếp liên quan đến vụ án cần tịch thu tiêu hủy khi án có hiệu lực pháp luật. Riêng 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, đã qua sử dụng, bên trong có gắn thẻ sim viettel số 0389.026.030 cần tịch thu hóa giá sung công quỹ nhà nước.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Những vấn đề có liên quan: Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Võ Văn T quá trình điều tra chưa có đầy đủ căn cứ để xác định lai lịch của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Núi Thành tách ra tiếp tục xác minh và xử lý sau khi có căn cứ là đúng quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Võ Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 25 tháng 11 năm 2023.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015. Tuyên:
- Tịch thu, tiêu hủy khi án có hiệu lực pháp luật:
+ 01 phong bì số 189/PC09 (loại bì giấy dùng để gửi công văn), bên ngoài có 09 dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam, có chữ ký của Lê Hoàng Vũ, Mai Thị Lệ Hằng và Phan Văn Cảng, bên trong có: 0,669 gam mẫu A và toàn bộ các bao gói mẫu vật sau giám định
+ 01 (một) ống thuỷ tinh; 01 (một) chai nhựa đựng nước loại 500ml, trên nắp chai có đục 02 (hai) lỗ; 02 (hai) ống hút bằng nhựa.
+ 01 (một) mũ vải lưỡi trai màu đen, hai bên mũ lưỡi trai màu đen có màu trắng đen xen kẽ với nhau, đã qua sử dụng.
- Tịch thu hóa giá, sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, đã qua sử dụng, bên trong có gắn thẻ sim viettel số 0389.026.030 khi án có hiệu lực pháp luật.
(Các vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Núi Thành Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26/3/2024).
3. Về án phí: Buộc bị cáo Võ Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo Võ Văn T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (29/3/2024).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Nam; - VKSND tỉnh Quảng Nam - Sở tư pháp tỉnh Quảng Nam; - VKSND huyện Núi Thành - Công an huyện Núi Thành; - Chi cục T.H.A dân sự Núi Thành; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Công Bá |