vanban.org

Bản án 19/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên Tuyên án 26/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vàng A D phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Vàng A D 09 (Chín) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 27/8/2024. Về vật chứng vụ án: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A D - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vàng A D phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƢỜNG NHÉ
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 19/2024/HS-ST
Ngày 26-12-2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Nhung

Các hội thẩm nhân dân: Ông Lành Văn Thủy

Ông Vi Văn Thuy

- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Tố Uyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 26/12/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2024/TLST-HS ngày 27/11/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-HS ngày 13/12/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vàng A D; Sinh năm 1995 tại xã T, huyện Th, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản N, xã Ch, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hoá: 02/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vàng A L (sinh năm 1974) và bà Giàng Thị S (đã chết); Có vợ là Thào Thị C và có 05 người con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/8/2024 đến ngày 30/8/2024; tạm giam từ ngày 30/8/2024 đến nay, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Pờ Go L, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 23/8/2024 Vàng A D đang ở nhà một mình thì có một người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt đến nhà D, qua trao đổi D mua được của ông ta 01 gói Heroine được gói trong mảnh nilon màu hồng với giá tiền 2.000.000 đồng, sau khi mua bán xong Heroine người đàn ông đi đâu D không biết, còn D cầm số Heroine mua được cất giấu dưới gối ở giường ngủ. Đến ngày 24/8/2024 D lấy số Heroine mua được chia ra thành 05 cục to nhỏ khác nhau và lấy các mảnh nilon màu hồng gói kín lại, D lấy 01 gói để sử dụng và cất 04 gói còn lại dưới gối ở đầu giường ngủ. Đến 06 giờ ngày 27/8/2024 có một người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt đến hỏi mua Heroine của D về để sử dụng, qua trao đổi D đồng ý bán cho người đàn ông dân tộc Mông đó 01 gói nhỏ Heroine với giá tiền 50.000 đồng, D nhận số tiền 50.000 đồng cất vào túi quần, người đàn ông lạ mặt mua Heroine của D đi đâu D không biết. Đến 08 giờ cùng ngày 27/8/2024 D lấy 02 gói Heroine ra chuẩn bị sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Mường Nhé phát hiện bắt quả tang, thu giữ của D 02 gói Heroine, tiếp tục kiểm tra tổ công tác phát hiện, thu giữ dưới gối ở đầu giường ngủ của D 01 gói Heroine và thu giữ số tiền 50.000 đồng ở túi áo ngực D mặc trên người. Tổng cộng 03 gói Heroine tổ công tác thu giữ là 10,97 gam. D khai nhận mục đích mua Heroine để bán lẻ kiếm lời và sử dụng cho bản thân. Đối với số tiền 50.000 đồng thu giữ của D, D khai nhận đó là tiền D bán Heroine mà có.

Kết luận giám định số 1412/KL-KTHS ngày 04/9/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Vật chứng thu giữ của Vàng A D ký hiệu V1, V2, V3 có tổng khối lượng 10,97 gam chất bột màu trắng là chất ma túy: Loại Heroine; Hoàn lại đối tượng giám định (gói V1: 9,9 gam, gói V2: 0,68 gam, gói V3: 0,04 gam).

Kết luận giám định số 1436/KL-KTHS ngày 05/9/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: 05 tờ tiền Việt Nam gửi giám định (gồm 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 20.000 đồng, 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng và 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 5.000 đồng) là tiền thật. Hoàn lại toàn bộ đối tượng giám định (gồm 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 20.000 đồng, 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng và 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 5.000 đồng).

Cáo trạng số 68/CT-VKS-MN ngày 25/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đã truy tố Vàng A D để xét xử về tội: Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng truy tố, phần luận tội đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, về hình phạt chính, đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 năm 06 tháng đến 10 năm 06 tháng tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy số Heroine được hoàn lại sau khi giám định là gói V1: 9,9 gam, gói V2: 0,68 gam, gói V3: 0,04 gam và 03 mảnh nilon màu hồng; Đề nghị trả lại cho bị cáo số tiền 50.000 đồng. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội và xét đơn đề nghị miễn án phí của bị cáo đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, nhất trí với luận tội về tội danh; điều khoản áp dụng; hình phạt bổ sung; xử lý vật chứng vụ án và án phí; phần hình phạt chính đề nghị hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất theo đề nghị của Viện Kiểm sát.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã tóm tắt ở trên và đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo không tranh luận gì với Luận tội của Viện kiểm sát. Lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Xét hành vi phạm tội và những căn cứ xác định tội danh của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Vàng A D khai: Khoảng 19 giờ ngày 23/8/2024 bị cáo mua được 01 gói Heroine với giá tiền 2.000.000 đồng của một người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt ở tại nhà của bị cáo ở bản N, xã Ch, huyện M. Sau khi mua được ma túy người đàn ông lạ mặt đi đâu bị cáo không biết, còn bị cáo lấy số Heroine mua được chia ra thành 05 gói to nhỏ khác nhau, bị cáo lấy 01 gói để sử dụng và cất 04 gói còn lại dưới gối ở đầu giường ngủ. Đến 06 giờ ngày 27/8/2024 bị cáo bán cho người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt tại nhà bị cáo 01 gói nhỏ Heroine với giá tiền 50.000 đồng. Đến 08 giờ cùng ngày 27/8/2024 bị cáo lấy 02 gói Heroine ra chuẩn bị sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Mường Nhé phát hiện bắt quả tang, thu giữ của bị cáo 02 gói Heroine, tiếp tục kiểm tra tổ công tác phát hiện, thu giữ dưới gối ở đầu giường ngủ của bi cáo 01 gói Heroine và thu giữ số tiền 50.000 đồng ở túi áo ngực bị cáo mặc trên người. Tổng cộng 03 gói Heroine tổ công tác thu giữ của bị cáo D là 10,97 gam. Mục đích bị cáo mua Heroine về để sử dụng cho bản thân và bán lẻ kiếm lời. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai và các bản cung có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với Kết luận giám định, Kết luận điều tra, Cáo trạng truy tố và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để xác định hành vi tàng trữ trái phép 10,97 gam Heroine với mục đích để bán lẻ kiếm lời và sử dụng cho bản thân của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố bị cáo để xét xử về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất vụ án:

Đây là vụ án rất nghiêm trọng về ma túy, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, đi ngược lại đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng ngừa các tội phạm về ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo:

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo từ 09 năm 06 tháng đến 10 năm 06 tháng tù. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát. Xét đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên cần xử phạt bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên xét hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo khó khăn, xác minh tại nơi ở của bị cáo không có tài sản gì có giá trị, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt đã bán ma túy cho bị cáo và người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt đã mua ma túy của bị cáo, do bị cáo không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể của người này, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh nên không có cơ sở để xử lý.

Về xử lý vật chứng:

Đối với số Heroine được hoàn lại sau khi giám định là gói V1: 9,9 gam, gói V2: 0,68 gam, gói V3: 0,04 gam (Khối lượng Heroine thu giữ có tổng khối lượng là 10,97 gam, đã gửi toàn bộ giám định, hoàn lại mẫu vật sau khi giám định là gói V1: 9,9 gam, gói V2: 0,68 gam, gói V3: 0,04 gam) và 03 mảnh nilon màu hồng, xét thấy đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành, vật chứng không có giá trị sử dụng cần căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy.

Đối với số tiền 50.000 đồng thu giữ của bị cáo D, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai đây là số tiền bị cáo bán ma túy cho người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt, tuy nhiên ngoài lời khai của bị cáo thì không có tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh đây là số tiền bị cáo bán ma túy mà có nên cần căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo.

Về án phí:

Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn đề nghị miễn án phí nên căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo:

Theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: bị cáo được quyền kháng cáo bản án.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Nhé, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Vàng A D phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Vàng A D 09 (Chín) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 27/8/2024.

2. Về vật chứng vụ án:

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu huỷ số Heroine được hoàn lại sau khi giám định là gói V1: 9,9 gam, gói V2: 0,68 gam, gói V3: 0,04 gam và 03 mảnh nilon màu hồng.

Trả lại cho bị cáo số tiền 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng).

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/11/2024 giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.

3. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/12/2024).

Cỡ chữ