vanban.org

Bản án 19/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre Tuyên án 09/04/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thanh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Thanh V 01 (Một) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thanh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA TRI
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/HS-ST
Ngày: 09-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Tấn Tài.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Ton.

2. Ông Nguyễn Hồng Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Hoàng Long - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Ba Tri.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa:

1. Ông Nguyễn Văn Triều - Kiểm sát viên.

2. Ông Nguyễn Văn Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST – HS ngày 27 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Thanh V, sinh ngày 08/8/1995; Tên gọi khác: Lửa; Nơi sinh: tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: Số 840/AL, khu phố A, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Đ và bà Lê Thị N; Vợ: Phan Thị Huyền Tr (đã ly hôn); Con: Có 01 con sinh năm 2019; Có 01 chị sinh năm 1994; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre (theo Hợp đồng dịch vụ cai nghiện ma túy tự nguyện số 11/HĐDVCN ngày 24/01/2024 có thời hạn từ ngày 24/01/2024 đến ngày 23/7/2024). Bị cáo có mặt tại tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lê Văn Đ, sinh năm 1966; (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số 240/AL, khu phố A, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bến Tre.

- Người làm chứng: Cao Xuân H, sinh năm 1990; (Vắng mặt).

Địa chỉ: Nhà trọ H, khu phố A, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bến Tre.

- Người chứng kiến:

1. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1981; (Vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bến Tre.

2. Lê Thanh Bình, sinh năm 1978; (Vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Thanh V – sinh năm 1995 cư ngụ khu phố A, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bến Tre là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Vào khoảng 10 giờ ngày 20/01/2024, V được đối tượng tên Việt (không rõ nhân thân lai lịch) cho 01 đoạn ống hút được hàn kín hai đầu bên trong có chứa ma túy rồi V đem về nhà cất giữ. Đến khoảng 08 giờ 25 phút ngày 23/01/2024, Lê Thanh V mượn xe mô tô hiệu Nozza Grande biển số 71C2-376.90 của Lê Văn Đ – sinh năm 1966 (cha ruột V) một mình điều khiển đem theo số ma túy trên đến phòng số 13 nhà trọ H ở khu phố A, thị trấn T, huyện B để thăm bạn là Cao Xuân H – sinh năm 1990. Khi V vào phòng trọ số 13 nói chuyện với H được một lúc thì bị Lực lượng phòng chống ma túy Đồn Biên phòng Hàm Luông và Công an thị trấn Tiệm Tôm vào phát hiện kiểm tra bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ, gồm:

- 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng đục được hàn kín hai đầu có kích thước 4,2 x 0,7cm, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể rắn nghi ma túy đá được niêm phong trong phong bì ký hiệu T01, chưa xử lý.

- 01 xe mô tô biển kiểm soát 71C2-376.90 màu xanh đen, hiệu Nozza Grande. Cơ quan điều tra đã xử lý giao trả cho chủ sở hữu là Lê Văn Đ.

Tại Bản kết luận giám định số 72/2024/KL-KTHS ngày 24/01/2024, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 đoạn ống hút được niêm phong trong phong bì ký hiệu T01 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,2567 gam. Hoàn lại mẫu vật ký hiệu T01 sau giám định đã được niêm phong có khối lượng là 0,1867 gam.

Tại Bản Cáo trạng số: 15/CT-VKSBT ngày 12/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri truy tố bị cáo Lê Thanh V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Lê Thanh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị:

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Thanh V từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị HĐXX:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì số 72/2024 được niêm phong bên trong phong bì có chứa chất ma túy có khối lượng 0,1867 gam và vỏ bao gói là chất cấm.

+ Ghi nhận Cơ quan điều tra (CQĐT) đã xử lý giao trả: 01 mô tô biển số 71C2-376.90 cho chủ sở hữu là Lê Văn Đ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Thanh V đã khai nhận toàn bộ hành vi mua trái phép chất ma túy về cất giấu để sử dụng đã thực hiện như Cáo trạng đã xác định.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Văn Đ đã được CQĐT xử lý giao trả 01 xe mô tô biển kiểm soát 71C2-376.90 màu xanh đen, hiệu Nozza Grande do ông làm chủ sở hữu do không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo nên ông không có ý kiến gì thêm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận nên Kiểm sát viên không tranh luận gì thêm.

Bị cáo nói lời nói sau cùng, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Văn Đ, người làm chứng Cao Xuân H, người chứng kiến Nguyễn Văn Đ và Lê Thanh B vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, những người ngày đã có lời khai rõ trong quá trình điều tra vụ án. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Vì vậy, căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên trong vụ án.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Tri, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, lời khai nhận của bị cáo Lê Thanh V là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, vật chứng là ma túy đã thu giữ trong quá trình bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định cùng những tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Đã đủ cơ sở xác định: Do nghiện ma túy, nên bị cáo Lê Thanh V đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,2567 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang vào khoảng 08 giờ 40 phút ngày 23/01/2024 tại khu phố An Lợi, thị trấn Tiệm Tôm, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo Lê Thanh V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Khi thực hiện hành vi, bị cáo là người đã trưởng thành và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp và cố ý thực hiện. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết và với tính chất hành vi của bị cáo, HĐXX xét thấy cần xử lý bị cáo bằng hình phạt tù giam để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo nhằm giúp bị cáo từ bỏ chất ma túy để trở thành người tốt, có ích cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, phòng ngừa chung trước thực trạng tệ nạn ma túy đang ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp trên địa bàn huyện nhà.

Về tình tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với số ma túy còn lại có khối lượng 0,1867 gam và vỏ bao gói được niêm phong trong phong bì số 72/2024 là chất cấm nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 mô tô biển số 71C2-376.90 CQĐT đã xử lý giao trả cho chủ sở hữu Lê Văn Đ là phù hợp với quy định pháp luật nên được HĐXX ghi nhận.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Lê Thanh V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Thanh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Lê Thanh V 01 (Một) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại có khối lượng 0,1867 gam và vỏ bao gói được niêm phong trong phong bì số 72/2024.

(Theo phiếu nhập kho số NKTV.18. ngày 14/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri).

- Ghi nhận CQĐT đã xử lý giao trả 01 mô tô biển số 71C2-376.90 cho chủ sở hữu là Lê Văn Đ.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14;

Buộc bị cáo Lê Thanh V phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định pháp luật. * Nơi nhận:

Cỡ chữ