- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn A - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Vũ Văn Á. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 86/2023/HS-ST ngày 04-12-2023 của Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, cụ thể: 1.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2024/HS-PT Ngày: 18 - 3 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mai Thị Minh Hồng
Các Thẩm phán:
Ông Lại Văn Tùng
Ông Mai Anh Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Kim Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên. Ngày 18 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2024/TLPT-HS ngày 18 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo Vũ Văn Á do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 86/2023/HS-ST ngày 04 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Vũ Văn Á, sinh năm 1977; giới tính: Nam; Nơi cư trú: Xóm C xã P, huyện N, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Quang T, sinh năm 1949 và bà Trần Thị N, sinh năm 1952; vợ thứ nhất Nguyễn Thị N1 (đã ly hôn); vợ thứ 2 Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm 1983, có 03 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 30/12/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng xử phạt 04 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong ngày 30/12/2014. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/6/2023 đến ngày 29/6/2023 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N. Ngày 10/8/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” cho đến nay. Có mặt. * Ngoài ra còn có 02 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trong khoảng thời gian từ ngày 27/02/2023 đến ngày 19/6/2023, Vũ Văn Á đã bán số lô, số đề cho Vũ Văn T2 và Trần Văn H thu lợi bất chính với hình thức, thủ đoạn sau khi có kết quả thì hai bên gặp nhau thanh toán. Các bên thỏa thuận: Giá bán 01 điểm lô là 22.000 đồng. Người chơi chọn số bất kì từ số 00 đến số 99, nếu các số trùng với 02 số cuối của 27 dãy số của giải đặc biệt và giải nhất đến giải bảy xổ số kiến thiết miền B quay mở thưởng cùng ngày thì người chơi sẽ nhận được số tiền tương ứng 01 điểm lô bằng 80.000 đồng. Người chơi lô xiên 04 chọn 04 số bất kì từ 00 đến 99, nếu 04 số lô trùng với 02 số cuối của 27 dãy số của giải đặc biệt và giải nhất đến giải bảy xổ số kiến thiết miền B quay mở thưởng cùng ngày thì người chơi sẽ nhận được số tiền tương ứng gấp 100 lần (10.000 đồng trúng 1.000.000 đồng). Người chơi đề chọn số bất kì từ số 00 đến số I, nếu số đề trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt xổ số kiến thiết miền B quay mở thưởng cùng ngày thì người chơi sẽ được số tiền gấp 70 lần số tiền đã bỏ ra để mua số đề đó (1.000 đồng trúng 70.000 đồng). Người chơi số đề ba càng chọn 03 số bất kì, nếu 03 số cuối cùng của giải đặc biệt xổ số kiến thiết miền B quay mở thưởng cùng ngày trùng với số người chơi đã chọn thì sẽ được số tiền gấp 400 lần số tiền đã bỏ ra (1.000 đồng trúng 400.000 đồng). Cụ thể những lần đánh bạc như sau:
- Ngày 27/02/2023: Ánh bán cho T2 1.300.000 đồng tiền đề, không trúng thưởng; bán 530 điểm lô tương ứng 11.660.000 đồng, trúng 220 điểm lô tương ứng 17.600.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa Vũ Văn Á và Vũ Văn T2 là: 30.560.000 đồng.
- Ngày 28/02/2023: Ánh bán cho T2 2.200.000 đồng tiền đề, không trúng thưởng; bán 500 điểm lô tương ứng 11.000.000 đồng, không trúng thưởng; bán 300.000 đồng tiền lô xiên 4, không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc giữa Vũ Văn Á và Vũ Văn T2 là: 13.500.000 đồng.
- Ngày 01/3/2023: Ánh bán cho T2 2.400.000 đồng tiền đề, không trúng thưởng; bán 400 điểm lô tương ứng 8.800.000 đồng, không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc giữa Vũ Văn Á và Vũ Văn T2 là: 11.200.000 đồng.
- Ngày 17/6/2023: Ánh bán cho H 5.210.000 đồng tiền đề, không trúng thưởng; bán 30 điểm lô tương ứng 660.000 đồng, không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc giữa Vũ Văn Á và Trần Văn H là: 5.870.000 đồng.
- Ngày 18/6/2023: Ánh bán cho H 5.260.000 đồng tiền đề, trúng thưởng 120.000 đồng tương đương số tiền 8.400.000 đồng; bán 60 điểm lô tương ứng 1.320.000 đồng, trúng thưởng 30 điểm lô tương ứng 2.400.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa Vũ Văn Á và Trần Văn H là: 17.380.000 đồng.
- Ngày 19/6/2023: Ánh bán cho H 3.845.000 đồng tiền đề, không trúng thưởng; bán 40 điểm lô tương ứng 880.000 đồng, trúng thưởng 20 điểm lô tương ứng 1.600.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa Vũ Văn Á và Trần Văn H là: 6.325.000 đồng.
* Tại Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện N các đối tượng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
* Quá trình điều tra đã thu giữ của Trần Văn H 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A30 màu đen, số IMEI1: 354874103993440, số IMEI 2: 354875103993447 (ký hiệu A1); thu giữ của Vũ Văn Á 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone Xs, vỏ màu trắng, lắp sim số 0837.338.379 (ký hiệu A2).
* Tại bản kết luận giám định số 610/KL-KTHS ngày 18/8/2023 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận:
- Trong mẫu giám định ký hiệu A1: Tìm thấy 626 cuộc gọi, 140 tin nhắn tức thì, 22 cuộc hội thoại Messenger, 40 cuộc hội thoại Native Messages, 426 tin nhắn Zalo thời gian từ ngày 01/02/2023 đến ngày 19/6/2023 được lưu trong máy. Nội dung chi tiết các dữ liệu được thể hiện tại thư mục có tên “A1” được lưu trong đĩa CD kèm theo. Không tìm thấy dữ liệu được lưu trong 02 SIM.
- Trong mẫu giám định ký hiệu A2: Tìm thấy 06 danh bạ, 01 cuộc hội thoại Native Messages, 05 tin nhắn Recents, 18 tin nhắn Zalo thời gian từ ngày 01/02/2023 đến ngày 19/6/2023 được lưu trong máy. Nội dung chi tiết các dữ liệu được thể hiện tại thư mục có tên “A2” được lưu trong đĩa CD kèm theo. Không tìm thấy dữ liệu được lưu trong SIM.
* Ngoài ra, trong quá trình điều tra, Trần Văn H còn khai nhận đã 03 lần mua hộ số đề cho Nguyễn Văn C, sinh năm 1977, ở xóm M, xã N, huyện N cụ thể: Ngày 17/6/2023 số tiền 2.500.000 đồng; ngày 18/6/2023 số tiền 1.200.000 đồng; ngày 19/6/2023 số tiền 1.200.000 đồng. Xét thấy, hành vi không cấu thành tội nên Công an huyện N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Số tiền 4.900.000 đồng mà Nguyễn Văn C nhờ Trần Văn H mua số đề của Vũ Văn Á, Công an huyện N đã tịch thu sung quỹ Nhà nước.
* Với nội dung nêu trên, Bản án hình sự sơ thẩm số: 86/2023/HS-ST ngày 04-12-2023 của Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Căn cứ Điều 6; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1. Tuyên bố các bị cáo Vũ Văn Á, Vũ Văn T2 và Trần Văn H phạm tội “Đánh bạc”.
2. Xử phạt bị cáo Vũ Văn Á 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ, thời gian tạm giam từ ngày 20/6/2023 đến ngày 10/8/2023. Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với các bị cáo khác trong vụ án, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. * Ngày 11-12-2023, bị cáo Vũ Văn Á có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tạo tại địa phương. * Tại phiên toà phúc thẩm:
- Bị cáo Vũ Văn Á giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi của mình như bản án sơ thẩm quy kết. Bị cáo Á nộp thêm biên lai thu tiền thể hiện bị cáo đã nộp khắc phục tiếp số tiền bị tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước theo quyết định của bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định kết luận về vụ án: Không phát hiện có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng. Đơn kháng cáo của bị cáo hợp lệ, được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tại phiên toà, bị cáo nộp thêm Biên lai nộp tiếp 20.000.000 đồng tiền bị tịch thu theo quyết định của án sơ thẩm; bị cáo có ông nội và 02 chú là liệt sỹ; bà ngoại bị cáo là người có công. Đề nghị: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm. Giảm cho bị cáo Á từ 03 tháng đến 05 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về phần thủ tục: Đơn kháng cáo của bị cáo Vũ Văn Á làm trong thời hạn luật định, được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm. [2] Tại phiên toà, bị cáo Vũ Văn Á thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, thừa nhận bản án sơ thẩm xét xử là đúng người, đúng tội, không oan. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; có đủ cơ sở kết luận: Vũ Văn Á có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề cho Vũ Văn T2 ngày 27/02/2023 số tiền 30.560.000 đồng, ngày 28/02/2023 số tiền 13.500.000 đồng, ngày 01/3/2023 số tiền 11.200.000 đồng và bán số lô, số đề cho Trần Văn H ngày 17/6/2023 số tiền 5.870.000 đồng, ngày 18/6/2023 số tiền 17.380.000 đồng, ngày 19/6/2023 số tiền 6.325.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền Á đánh bạc với Vũ Văn T2, Trần Văn H là 84.835.000 đồng. Với hành vi nêu trên, cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.
Xét kháng cáo của bị cáo Vũ Văn Á, Hội đồng xét xử nhận thấy: Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét đến vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo để ấn định mức hình phạt đối với bị cáo như vậy cũng là phù hợp. Bị cáo Vũ Văn Á là người bán số lô, số đề; bán số lô, số đề nhiều ngày cho nhiều người nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị đưa ra xét xử cùng về tội “Đánh bạc” nhưng không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội “Đánh bạc”. Việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Vũ Văn Á cũng là phù hợp, có căn cứ pháp lý. Do vậy, kháng cáo xin được cải tạo tại địa phương của bị cáo là không được chấp nhận. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, bị cáo Vũ Văn Á đã nộp cho Tòa án Biên lai thu tiền thể hiện bị cáo đã nộp hết khoản tiền bị tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước theo quyết định của Bản án sơ thẩm; như vậy cho thấy bị cáo đã có ý thức chấp hành pháp luật; bị cáo có ông nội và 02 chú là Liệt sỹ, bà nội là Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, cần xem xét và cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về hòa nhập cộng đồng, làm công dân có ích cho gia đình và xã hội. [4] Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Vũ Văn Á, sửa bản án sơ thẩm. [5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. [6] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Vũ Văn Á không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Vì các lẽ trên,
Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
QUYẾT ĐỊNH:
Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Vũ Văn Á. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 86/2023/HS-ST ngày 04-12-2023 của Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, cụ thể: 1. Tuyên bố bị cáo Vũ Văn Á phạm tội “Đánh bạc”.
2. Căn cứ: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Vũ Văn Á 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian đã bị tạm giam từ ngày 20-6-2023 đến ngày 10-8-2023. 3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Vũ Văn Á không phải chịu. Xác nhận bị cáo Vũ Văn Á đã nộp xong khoản tiền bị tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước theo quyết định của bản án sơ thẩm với số tiền là 20.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0001000 ngày 04-3-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng. 4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. 5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Lại Văn Tùng Mai Anh Tuấn | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Mai Thị Minh Hồng |